|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 69/2026/DS-PT Ngày: 23/01/2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn
Ông Nguyễn Minh Hoàng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 23/01/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 715/2025/TLPT-DS ngày 28/10/2025 về việc "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ"
Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 968/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty Cổ phần K. Trụ sở: tầng 12, tòa nhà S, số A P, phường M, quận N (nay là phường T), Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị T, Tổng Giám đốc; Đại diện ủy quyền: Ông Đặng Thành V, bà Phạm Thị L (theo giấy ủy quyền số 01/2026/GUQ-NSS ngày 14/01/2026).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh V1, sinh 1972, ĐKNKTT: số E - D V, quận Đ (nay là phường V - Q), thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: liền kề 60 – H11 khu đô thị S, phường X, quận T (nay là phường X), thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của bà V1: Bà Nguyễn Ngọc H – Luật sư Văn phòng L1 và Cộng sự (Theo văn bản ủy quyền số 10-03/2025/NTQV-NHQ ngày 10.3.2025 và văn bản cử người tham gia tố tụng ngày 10.3.2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phùng Quang C, Luật sư Văn phòng L1 và Cộng sự - Đoàn luật sư thành phố H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần S1. Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà S, số A P, phường M, quận N (phường T), Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Hữu T1 – Tổng Giám đốc.
1
*Người kháng cáo: Công ty Cổ phần K, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1.
Tại phiên tòa: Ông Đặng Thành V, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Ngọc H, ông Phùng Quang C. Công ty Cổ phần S1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Đại diện nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần K (sau đây gọi là “Công ty K”) là đơn vị môi giới bất động sản và có khả năng thu xếp cho khách hàng mua sản phẩm là Nhà ở tại Dự án S Wonder Villas tại địa chỉ ô đất I.26-NO, I1.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, Hà Nội (Sau đây gọi là “Dự Án”).
Công ty K có thỏa thuận thực hiện dịch vụ thu xếp, bảo đảm để khách hàng bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 (sau đây gọi là “bà V1”) mua 01 (một) nhà ở số D11 của Dự Án từ Chủ Đầu Tư, cụ thể:
Ngày 11/12/2018, Công ty K ký với ông Vũ Tiến T2 Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ (“Hợp đồng D11”). Đến ngày 22/10/2020, ông Vũ Tiến T2, bà V1 và Công ty K đã đồng ý và thống nhất ký kết thỏa thuận chuyển nhượng Hợp đồng D11. Theo đó, bà V1 sẽ kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của ông Vũ Tiến T2 tại Hợp đồng D11. Đồng thời, Công ty K có trách nhiệm thu xếp để bà V1 ký với Chủ Đầu Tư hợp đồng mua 01 (một) nhà ở, có thông tin cụ thể như sau: Loại nhà ở: Nhà liền kề Shophouse; Đặc điểm của nhà ở: Nhà xây thô hoàn thiện mặt ngoài; Địa chỉ nhà ở: Lô đất số D11 thuộc ô đất I.B.26-NO, I1.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, Hà Nội; Diện tích đất: 120,00m2; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Để ở và kinh doanh; Thời hạn sử dụng: Lâu dài.
Về phía bà V1, căn cứ theo Hợp đồng D11 và Thỏa thuận chuyển nhượng, Công ty K xác nhận tổng số tiền bảo đảm mà bà V1 đã thanh toán đối với Hợp đồng D11 là 3.933.000.000 đồng.
Về phía Công ty K, thời hạn để Công ty thu xếp việc ký Hợp đồng mua bán căn nhà D11 giữa bà V1 và Chủ đầu tư là tháng 6/2021.
Trong quá trình triển khai Dự Án, do phát sinh sự kiện bất khả kháng liên quan đến tiến độ pháp lý của Dự Án nên Nguyên Đ đã gửi đến bà V1 Thông báo thay đổi thời gian dự ký Hợp đồng mua bán nhà ở với Chủ đầu tư.
Đến thời điểm hiện tại, Công ty K không thể thu xếp để Khách hàng ký hợp đồng mua bán với Chủ Đầu Tư và không thể tiếp tục thực hiện việc thu xếp này theo hợp đồng bảo đảm đã ký kết. Bởi vậy, Nguyên Đ đã nhanh chóng liên lạc với Khách hàng để: (1) thông báo về việc Nguyên Đơn không thể thu xếp việc ký kết hợp đồng mua bán giữa Khách hàng và Chủ Đầu Tư; và (2) mời Khách hàng đến thanh lý Hợp Đồng để nhận lại tiền bảo đảm và lợi ích sau khi Hợp Đồng chấm dứt. Cụ thể số tiền mà Khách hàng được nhận theo Hợp đồng D11 như sau: số tiền Nguyên Đơn hoàn lại cho Bị Đ1 là 4.651.284.329 VNĐ, bao gồm, tiền bảo đảm là 3.933.000.000 đồng và 718.284.329 đồng với mức lãi suất 06%/năm tính từ ngày Công ty K nhận khoản tiền bảo đảm đến ngày thông báo chấm dứt Hợp Đồng.
Sau nhiều lần liên lạc và trao đổi nhưng Khách hàng không phối hợp và làm việc với Công ty K để hoàn thiện thủ tục thanh lý Hợp Đồng và nhận lại khoản tiền
2
Khách hàng đã thanh toán mua nhà. Ngày 07/11/2023, Công ty K buộc phải gửi các Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng đảm bảo đến Khách hàng và đề nghị Khách hàng đến để thực hiện thủ tục thanh lý. Tuy nhiên, Khách hàng vẫn không đồng ý thực hiện thủ tục thanh lý. Nhận thấy nếu không thanh lý được Hợp đồng và hoàn trả tiền đảm bảo cho Khách hàng thì Công ty K vẫn sẽ tiếp tục phải chịu tiền lãi đối với Khoản Tiền Bảo Đ2. Như vậy, việc Khách hàng chậm trễ thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng gây thiệt hại không nhỏ đến Nhà S, ảnh hưởng đến nguồn tài chính của công ty.
Căn cứ chấm dứt và hệ quả do chấm dứt Hợp đồng: Một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng được quy định tại Khoản 4.2 Điều 4 Hợp Đồng như sau:
“4.2. Hợp đồng này có thể chấm dứt trước thời hạn khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
(d) Các trường hợp chấm dứt theo quy định của pháp luật thuộc về lỗi của SSH”
Như nội dung đã nêu tại Mục 1 văn bản này, do điều kiện khách quan, Công ty K đã không thể thu xếp cho Khách hàng ký hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư. Do đó, Công ty K đã đơn phương chấm dứt Hợp Đồng theo các nội dung tại thông báo đã gửi Khách hàng.
Việc Công ty K đơn phương chấm dứt Hợp đồng là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại điểm d, khoản 4.2 Điều 4 Hợp Đồng.
Các chế tài áp dụng đối với Công ty K do đơn phương chấm dứt Hợp đồng được quy định tại Khoản 4.3 Điều 4 Hợp đồng và được thể hiện chi tiết tại mục 2 (ii) văn bản này.
Hệ quả do chấm dứt Hợp Đồng: Hệ quả do chấm dứt Hợp đồng trong trường hợp do lỗi của Công ty K được quy định tại Điểm c, khoản 4.3, Điều 4 Hợp đồng như sau:
“(c) Trường hợp chấm dứt theo Điều 4.2 (d), SSH phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền bảo đảm đã nhận cộng với lãi suất bằng 6% (sáu phần trăm)/năm tính trên khoản tiền bảo đảm đã nhận và số ngày kể từ ngày SSH nhận được đủ khoản tiền bảo đảm đến ngày hoàn trả”.
Theo quy định này, do Công ty K đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng nên Công ty K phải: (1) Hoàn trả cho khách hàng khoản tiền bảo đảm đã nhận và (2) Thanh toán một khoản tiền lãi với mức lãi suất 6%/năm/Khoản tiền bảo đảm (Sau đây gọi là “Tiền Lãi”). Thời điểm bắt đầu tính lãi được tính từ ngày Công ty K nhận được đầy đủ khoản tiền bảo đảm. Chi tiết số tiền Công ty K phải thanh toán cho khách hàng được trình bày tại mục 2 (iii) Văn bản này.
Khoản tiền mà Công ty K phải thanh toán cho khách hàng: Như nội dung đã nêu tại Mục 2 (ii), số tiền mà Công ty K phải thanh toán cho khách hàng gồm (1) khoản tiền bảo đảm và (2) Tiền Lãi. Chi tiết như sau:
Khoản tiền bảo đảm: Khoản tiền bảo đảm Công ty K hoàn lại cho khách hàng theo Hợp đồng D11 là 3.933.000.000 đồng.
Tiền lãi: Số tiền lãi mà Công ty K phải thanh toán cho Khách hàng được tính theo công thức như sau:
3
Tiền Lãi = [(Khoản tiền bảo đảm x 6%)/ 365 ngày] x số ngày tính lãi. Trong đó: 6% là lãi suất theo Hợp Đồng; Số ngày tính lãi được tính từ ngày Công ty K nhận được đầy đủ khoản tiền bảo đm đến ngày chấm dứt Hợp đồng theo Thông báo ngày 07/11/2023.
Bảng chi tiết số tiền lãi mà Công ty K phải thanh toán cho Khách hàng như sau:
| Hợp đồng | KTBĐ (VNĐ) | Ngày bắt đầu tính lãi | Ngày kết thúc tính lãi | Số ngày tính lãi | Lãi suất | Tiền Lãi (VNĐ) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Hợp đồng D11 | 3.933.000.000 | 23/10/2021 | 07/11/2023 | 1111 | 6% | 718.284.328 |
Tổng số tiền mà Công ty K phải thanh toán cho khách hàng theo mục (1) và (2) là 4.651.284.329 đ.
Nay, Công ty K kính đề nghị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xem xét giải quyết như vấn đề sau:
- Công nhận Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ giữa Công ty cổ phần K và ông Vũ Tiến T2 và Thỏa thuận chuyển nhượng Hợp đồng bảo đảm ngày 22/10/2020 giữa ông Vũ Tiến T2, bà nguyễn Thị Quỳnh V1 và Công ty cổ phần K đã chấm dứt kể từ ngày 07/11/2023.
- Đề nghị Toà án buộc bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 hoàn thiện thủ tục thanh lý hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ và các văn bản liên quan với Công ty K.
* Đại diện bị đơn là bà H trình bày:
- Quá trình tham gia vào việc ký Phụ lục 01 của Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018:
Hợp đồng bảo đảm trên thực tế được Nguyên đơn ký với khách hàng là ông Vũ Tiến T2, CMND: 027083000264, địa chỉ số D P, C, Đ, Hà Nội vào ngày 11/12/2018. Theo đó, Nguyên đơn có khả năng thu xếp cho khách hàng mua sản phẩm là nhà ở số D11 tại Dự án Sunshine Wonder V có thông tin: Nhà liền kề Shophouse; xây thô hoàn thiện mặt ngoài; địa chỉ: Lô đất số D thuộc ô đất I.B.26-NO, I1.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, Hà Nội (Nhà ở).
Do bị đơn có nhu cầu về nhà ở nên đã nhận chuyển nhượng lại quyền mua Nhà ở này từ ông Vũ Tiến T2 với mức giá là 5,5 tỷ đồng (xin nộp kèm tài liệu chứng minh). Trên cơ sở đồng ý việc chuyển nhượng giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và ông Vũ Tiến T2, Công ty cổ phần K đã tiến hành ký thoả thuận 03 bên gồm: ông T2, bà V1 và Công ty cổ phần K theo Thoả thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm về việc mua bán nhà ở tại Dự án S2 vào ngày 22/10/2020 (Thoả thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm).
Khi tham gia giao dịch này, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 ý thức rằng, Công ty cổ phần K là đơn vị được Chủ đầu tư dự án Sunshine Wonder V uỷ thác để đứng ra nhận tiền đặt cọc đảm bảo cho giao dịch mua bán Nhà ở. Vì trong văn bản giao dịch với ông Vũ Tiến T2 có ghi rõ Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng bất động sản và trong đó có ghi rõ ông Vũ Tiến T2 chuyển nhượng Nhà ở với giá 23 tỷ 200 triệu đồng cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1. Trên cơ sở nắm bắt được nội dung giao dịch này, Công ty cổ phần K đã không phản đối và còn tạo điều kiện để 03 bên thoả thuận tiếp tục thực
4
hiện nghĩa vụ bảo đảm (đặt cọc) mua Nhà ở theo Thoả thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm đã đề cập ở trên.
Để đảm bảo quyền mua Nhà ở và tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đặt cọc, Công ty cổ phần K và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 đã ký Phụ lục 01 ngày 22/10/2022 bổ sung cho Hợp đồng bảo đảm. Và cho đến thời điểm hiện tại, bà V1 đã hoàn thành việc đặt cọc cho Công ty cổ phần K một khoản tiền bảo đảm cho nghĩa vụ và quyền mua nhà theo Hợp đồng bảo đảm là 3,933 tỷ đồng. Tuy nhiên, Công ty cổ phần K vẫn chưa tiến hành việc ký kết hợp đồng mua nhà ở giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và C1 đầu tư theo như cam kết tại Hợp đồng bảo đảm.
Bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 khẳng định vẫn tiếp tục thực hiện Hợp đồng bảo đảm và đề nghị Toà án nhân dân quận Đống Đa buộc Nguyên đơn phải tiếp tục thực hiện cam kết để bà V1 ký hợp đồng mua bán Nhà ở đúng pháp luật.
- Về việc thanh lý Hợp đồng bảo đảm và các văn bản liên quan với Công ty cổ phần K:
Quyền chấm dứt theo Hợp đồng bảo đảm thuộc về khách hàng là bà Nguyễn Thị Quỳnh V1, nên yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về vấn đề này là không phù hợp với thoả thuận trong Hợp đồng bảo đảm. Cụ thể: điểm c, Điều 4.2 Hợp đồng bảo đảm có nêu: “Theo quyết định của Khách hàng bằng cách gửi thông báo bằng văn bản trước 30 (ba mươi) ngày cho SSH trong trường hợp SSH vi phạm tiến độ quá 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày hết thời hạn cam kết quy định tại Điều 2.6 của Hợp đồng này”. Trong trường hợp này, điểm b, Điều 4.3 quy định: “Trường hợp chấm dứt theo Điều 4.2 (c), SSH phải hoàn trả lại toàn bộ Khoản tiền bảo đảm đã nhận cộng với khoản phạt bằng 6% Khoản tiền bảo đảm đã nhận”.
Quy định trên đây có thể hiểu rằng, việc chấm dứt Hợp đồng bảo đảm phải do quyết định từ phía khách hàng là bà V1 chứ không phải Công ty cổ phần K. Do vậy, Bị đơn đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu này của Nguyên đơn.
Nguyên đơn đưa ra lý do chấm dứt là: i) không tồn tại Hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản ngày 01/06/2018 giữa Công ty cổ phần S1 và Công ty cổ phần K và vì ii) bất khả kháng.
Về vấn đề này, theo ý kiến của bị đơn, khi tham gia giao dịch ký Hợp đồng bảo đảm, bị đơn không thấy nguyên đơn đưa ra Hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản ngày 01/06/2018 giữa Công ty cổ phần S1 và Công ty cổ phần K, cũng như Phụ lục 01-02-03 Hợp đồng này. Do vậy, bị đơn bác bỏ lý do vì căn cứ vào Hợp đồng này, nguyên đơn phải chấm dứt Hợp đồng bảo đảm với bị đơn.
Ngoài ra, nguyên đơn cho rằng đã rơi vào trường hợp bất khả kháng nên phải chấm dứt Hợp đồng bảo đảm là không phù hợp với quy định về điều kiện để coi là bất khả kháng theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành. Bởi vì, sự kiện bất khả kháng phải gồm 03 yếu tố: i) xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và ii) không thể khắc phục được và iii) mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Hơn nữa, theo quy định tại Điều 7 Hợp đồng Bảo đảm, việc chấm dứt hợp đồng không áp dụng cho trường hợp bất khả kháng, mà chỉ áp dụng khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra, các bên sẽ tạm dừng thực hiện nghĩa vụ trong thời gian xảy
5
ra sự kiện bất khả kháng và sẽ tiếp tục thực hiện sau khi sự kiện bất khả kháng chấm dứt.
Như vậy, theo quan điểm của bị đơn, cho rằng, việc nguyên đơn dựa vào sự kiện bất khả kháng để đơn phương chấm dứt Hợp đồng bảo đảm không phù hợp với quy định pháp luật và các quy định tại Hợp đồng bảo đảm được giao kết giữa các bên.
Bị đơn đưa ra yêu cầu và đề nghị như sau:
+ Yêu cầu Nguyên đơn tiếp tục thực hiện Hợp đồng bảo đảm. Nếu cần chấm dứt Hợp đồng bảo đảm thì cần phải căn cứ vào quyết định của bị đơn.
+ Trong trường hợp nguyên đơn cố tình hay đơn phương chấm dứt Hợp đồng bảo đảm thì phải chịu phạt và bồi thường toàn bộ những thiệt hại thực tế đã gây ra cho bị đơn mà không chỉ giới hạn trong việc hoàn trả tiền đã nhận đặt cọc và chịu phạt 6% trên khoản tiền này.
Đề nghị Toà án nhân dân quận Đống Đa bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn liên quan đến vụ án này.
Ngoài ra, bị đơn còn đề nghị Toà án triệu tập chủ đầu tư dự án là Công ty TNHH P và ông Vũ Tiến T2 tham gia vụ án này với vai trò là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần S1 trình bày:
Về quan hệ hợp đồng giữa Công ty cổ phần S1 và Công ty cổ phần K: Công ty cổ phần S1 (sau đây gọi là “S1”) là công ty có chức năng kinh doanh bất động sản đang trong quá trình hợp tác đầu tư với chủ đầu tư để thực hiện Dự án Sunshine W tại địa chỉ ô đất I.26-NO, I1.36-NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, Hà Nội (“Dự Án”).
Ngày 01/6/2018, S1 và Công ty cổ phần K (sau đây gọi là “Nhà Sunshine”) có ký kết Hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản Dự án S3 (“Hợp Đồng”). Theo đó, Nhà S có quyền triển khai tìm kiếm khách hàng tiềm năng, nghiên cứu thị trường, khảo sát nhu cầu khách hàng, giới thiệu và môi giới các bất động sản của Dự án theo quy định của pháp luật
Trong quá trình triển khai dự án, do phát sinh sự kiện bất khả kháng liên quan đến tiến độ pháp lý của dự án theo quy định tại Điều 1.12 và Điều 8.3 của Hợp đồng dẫn đến việc S1 không thể tiếp tục thực hiện Hợp đồng và phải quyết định chấm dứt toàn bộ Hợp đồng với K bằng Thông báo chấm dứt Hợp đồng ngày 03/11/2023. Đến ngày 05/11/2023, S1 và Nhà S đã ký biên bản thanh lý hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản số 01/HDDVTVMGBĐS/SSTH-SSH ngày 01/6/2018 và quyết định chấm dứt toàn bộ hiệu lực của Hợp đồng kể từ ngày 03/11/2023.
Sau khi chấm dứt Hợp đồng, Nhà S sẽ không thể tiếp tục triển khai việc tìm kiếm khách hàng tiềm năng, tư vấn, giới thiệu, môi giới và thu xếp để khách hàng ký kết hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư đối với các bất động sản của Dự án theo quy định của pháp luật.
Về việc Công ty S1 được xác định là người có quyền và lợi ích liên quan: Sau khi Hợp đồng giữa Sunshine T và Nhà Sunshine chấm dứt, hai bên đã tiến hành các công việc cần thiết để xử lý hậu quả của việc chấm dứt. Đối với giao dịch giữa Công ty K và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 mà Quý T3 đang giải quyết, Công ty S1 nhận thấy
6
không có bất kỳ quyền và lợi ích nào liên quan đến giao dịch và vụ việc chúng tôi kính đề nghị Quý Toà không đưa Công ty S1 tham gia vụ việc với tư cách là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án.
Trong trường hợp Toà vẫn tiếp tục đưa Công ty S1 tham gia vụ án với tư cách người có quyền và lợi ích liên quan thì chúng tôi cũng xin vắng mặt tại toàn bộ các buổi làm việc, buổi hoà giải, phiên xét xử của vụ án. Đề nghị Toà giải quyết vụ việc theo quy định mà không có mặt của Công ty S1.
Với nội dung trên Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần K.
- Buộc Công ty cổ phần K phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 tổng số tiền tính đến ngày 17/7/2025 là: 5.052.127.068 đồng. Trong đó tiền bảo đảm là 3.933.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 17/7/2025 là 1.119.127.068 đồng.
- Không chấp nhận đơn phản tố của cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 về việc tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 giữa Công ty cổ phần K và ông Vũ Tiến T2 và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 giữa Công ty cổ phần K và ông Vũ Tiến T2; Thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm ngày 22/10/2020 giữa ông Vũ Tiến T2, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và Công ty cổ phần K từ ngày 07/11/2023;
Kể từ ngày 18/7/2025 cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần K phải tiếp tục chịu lãi đối với khoản tiền bảo đảm theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng bảo đảm, tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi trả xong nợ gốc.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm Công ty cổ phần K kháng cáo đối với số tiền phạt vi phạm mà Công ty cổ phần K phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn Công ty cổ phần K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin rút yêu cầu kháng cáo; bị đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Sau khi phân tích nội dung vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, ông Phùng Quang C đề nghị: Căn cứ Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu”, đề nghị Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xem xét và tuyên Hợp đồng bảo đảm vô hiệu ngay từ thời điểm ký kết hợp đồng, đồng thời giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty K; Đề nghị Toà án tuyên Hợp đồng bảo đảm giữa Bà V1 và Công ty K là vô hiệu kể từ thời điểm ký kết và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, yêu cầu Công ty K phải hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho Bà V1 tính từ ngày 11/12/2018 và tạm tính đến ngày Toà án xét
7
xử phúc thẩm (ngày 23/01/2026), tổng số tiền là 6.367.149.863 đồng (Sáu tỷ ba trăm sáu mươi bảy triệu một trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng) và tiếp tục tính lãi cho đến khi Công ty K hoàn thành việc thi hành án.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng:
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
- Về nội dung vụ án
Công ty cổ phần K và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 kháng cáo bản án sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Công ty cổ phần K và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 đã nộp án phí phúc thẩm do vậy kháng cáo của hợp lệ về hình thức.
Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký Tòa án: Các thẩm phán tham gia phiên tòa và thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về thẩm quyền: Bản án sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Căn cứ Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án thành phố Hà Nội đã thụ lý phúc thẩm và giải quyết đúng thẩm quyền.
- Về thư lý và thông báo thụ lý: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã Thông báo việc thụ lý cho đương sự và VKS theo đúng qui định tại điều 285 BLTTDS.
- Triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định tại điều 294 BLTTDS
- Trình tự diễn biến tại phiên tòa đúng theo các quy định tại điều 297, điều 298, điều 302, điều 303, điều 305, điều 306 của BLTTDS;
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015.
Sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Công ty cổ phần K và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 kháng cáo bản án sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Công ty cổ phần K và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 đã nộp án phí phúc thẩm do vậy kháng cáo của hợp lệ về hình thức.
8
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn:
Toà án cấp sơ thẩm nhận định:
* Về yêu cầu tuyên chấm dứt hợp đồng bảo đảm và Thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm:
Ngày 01/6/2018, Công ty cổ phần S1 (“Công ty S1) và Công ty CP K đã ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản số 01/HDDVTVMGBDS/SSTH-SSH để thực hiện việc khảo sát thị trường, tìm hiểu trước nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm bất động sản tại các Dự án trên ô đất I.B26-NO, I1.36NO thuộc khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, quận T và phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội (nay là ô đất TT-01: TT-19 thuộc Khu đô thị N (giai đoạn II), phường P, thành phố Hà Nội) (“Dự Án"). Trên cơ sở này, Công ty CP K đã ký Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ (“Hợp Đồng) với ông Vũ Tiến T2 và sau đó ký Thoả thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm giữa 03 bên là Công ty CP K, ông Vũ Tiến T2 và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 để ghi nhận bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 sẽ thay thế ông Vũ Tiến T2 để thực hiện toàn bộ quyền, nghĩa vụ của theo Hợp Đồng và các phụ lục kèm theo kể từ ngày 22/10/2020.
Khi ký Hợp đồng Bảo đảm trên các bên có nêu Công ty CP K có chức năng đầu tư, môi giới bất động sản chứ không nêu Công ty CP K có chức năng kinh doanh bất động sản. Vì không kinh doanh bất động sản nên Công ty CP K đã ký HĐ dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản với Công ty cổ phần S1.
Công ty CP K với ông Vũ Tiến T2 ký kết với nhau Hợp đồng bảo đảm. Ông thành đã chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và 3 bên là Công ty CP K, ông Vũ Tiến T2 và bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 đã ký thỏa thuận ghi nhận bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 sẽ thay thế ông Vũ Tiến T2 để thực hiện toàn bộ quyền, nghĩa vụ của theo Hợp Đồng và các phụ lục kèm theo kể từ ngày 22/10/2020.
Xét thấy: Các bên khi ký kết các giao dịch trên hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật.
Do hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản giữa Công ty CP K với Công ty cổ phần S1 bị chấm dứt từ ngày 03/11/2023 nên Công ty CP K không thể bảo đảm thu xếp để bà V1 ký hợp đồng mua bán với chủ đầu tư và không thể tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm đã ký trên. Công ty CP K thông báo chấm dứt hợp đồng và xác định do lỗi của Công ty CP K.
Theo Hợp đồng bảo đảm các bên có thỏa thuận về: Mục đích và phương thức của hợp đồng; Biện pháp bảo đảm, lịch biểu cam kết; Quyền và nghĩa vụ của các bên; Thời hạn và chấm dứt hợp đồng; Bảo mật và không tiết lộ; Sự kiện bất khả kháng; Luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp.
Trong đó, tại điểm đ, Điều 4.2 của Hợp đồng các bên có thỏa thuận như sau:
“4.2 Hợp đồng này có thể chấm dứt trước thời hạn khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
(d) Các trường hợp chấm dứt theo quy định của pháp luật thuộc về lỗi của SSH”.
9
Căn cứ vào thỏa thuận trên Công ty CP K có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo đảm. Vì vậy, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 giữa Công ty cổ phần K và ông Vũ Tiến T2; Thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm ngày 22/10/2020 giữa ông Vũ Tiến T2, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và Công ty cổ phần K từ ngày 07/11/2023 của Công ty CP K là có căn cứ, không trái quy định của pháp luật Hội đồng xét xử chấp nhận.
* Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng: Theo quy định tại khoản 3 Điều 428 Bộ luật dân sự 2015định:
“Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt...”.
Công ty CP K đã gửi Thông báo chấm dứt Hợp đồng đến bà V1. Thông báo chấm dứt Hợp đồng đã được: gửi đến địa chỉ email của bà V1 là nguyenquynhvan27@gmail.com, vào lúc 19:17 ngày 07/11/2023; thư chuyển phát đến địa chỉ: D L - H11 khu đô thị S, T, Hà Nội, người nhận là bà Nguyễn Thị Quỳnh V1, số điện thoại 0904652628.
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đã chấm dứt kể từ thời điểm bà V1 nhận được thông báo chấm dứt của Công ty CP K.
* Xử lý hậu quả của việc chấm dứt HĐ: Trong Hợp đồng bảo đảm các bên có thỏa thuận tại điểm c Điều 4.3 về xử lý hệ quả khi chấm dứt như sau:
“4.3. Xử lý hệ quả khi chấm dứt như sau:
(c) Trường hợp chấm dứt theo Điều 4.2(d), SSH phải hoàn trả lại toàn bộ Khoản tiền bảo đảm đã nhận cộng với lãi suất bằng bằng 6% (sáu phần trăm)/năm tính trên khoản tiền bảo đảm đã nhận và số ngày kể từ ngày SSH nhận được đủ khoản tiền bảo đảm đến ngày hoàn trả;”.
Ngày 22/10/2020, bà V1, ông T2 và Công ty K đã ký thỏa thuận 3 bên về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm việc mua bán nhà ở, cùng ngày đó, bà V1 thanh toán số tiền đảm bảo lần 2 là 1.966.500.000 đồng. Tổng số tiền bà V1 đã thanh toán cho Công ty K 3.933.000.000 đồng.
Nhận định trên của Toà án cấp sơ thẩm là có căn cứ nên được HĐXX phúc thẩm chấp nhận.
Thời điểm xác lập, ký kết hợp đồng giữa Công ty CP K với bà V1 mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, do vậy số tiền lãi được tính từ ngày 22/10/2020 trên tổng số tiền bà V1 đã thanh toán cho Công ty K là 3.933.000.000 đồng.
Đối với nội dung này HĐXX phúc thẩm nhận định như sau:
Lãi được quy định trong Hợp đồng bảo đảm tại điểm c Điều 4.3 về xử lý hệ quả khi chấm dứt:
“4.3. Xử lý hệ quả khi chấm dứt như sau:
(c) Trường hợp chấm dứt theo Điều 4.2(d), SSH phải hoàn trả lại toàn bộ Khoản Tiền Bảo Đảm đã nhận cộng với lãi suất bằng bằng 6% (sáu phần trăm)/năm tính trên Khoản Tiền Bảo Đảm đã nhận và số ngày kể từ ngày SSH nhận được đủ Khoản Tiền Bảo Đảm đến ngày hoàn trả;”
10
Công ty CP K xác định HĐ chấm dứt thực hiện do lỗi của Công ty CP K nên Công ty xin chịu trách nhiệm hoàn trả cho bà V1 số tiền 3.933.000.000 đồng bà V1 đã nộp là phù hợp với thỏa thuận trong HĐ.
Ngày 11/12/2018, Công ty K ký với ông Vũ Tiến T2 Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ (“Hợp đồng D11”) ông Vũ Tiến T2 thanh toán số tiền đảm bảo lần 1 là 1.966.500.000 đồng. Ngày 22/10/2020, bà V1, ông T2 và Công ty K đã ký thỏa thuận 3 bên về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm việc mua bán nhà ở, cùng ngày đó, bà V1 thanh toán số tiền đảm bảo lần 2 là 1.966.500.000 đồng.
Công ty CP K đã có Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng gửi đến bà V1 ngày 07/11/2023. Theo quy định tại Khoản 4.2 Điều 428 Bộ luật dân sự 2015: “Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp”. Việc thông báo chấm dứt hợp đồng của Công ty CP K không làm loại trừ nghĩa vụ về phạt vi phạm trong hợp đồng. Theo quy định trong Hợp đồng bảo đảm, Công ty CP K phải thanh toán 1 khoản phạt vi phạm bằng 6%/năm số tiền bảo đảm đã nhận tính đến thời điểm thanh toán toàn bộ số tiền bảo đảm.
Như vậy, Công ty CP K phải chịu trách nhiệm trả lãi cho bà V1 tính từ thời điểm từ ngày 12/11/2018 đến ngày 21/10/2020 và từ ngày 22/10/2020 đến khi thanh toán toàn bộ số tiền bảo đảm.
Toà án cấp sơ thẩm chỉ buộc Công ty CP K phải chịu trách nhiệm trả lãi cho bà V1 từ thời điểm từ ngày 22/10/2020 đến khi thanh toán toàn bộ số tiền bảo đảm là bỏ sót trách nhiệm của Công ty CP K trả lãi cho bà V1 tính từ thời điểm từ ngày 12/11/2018 đến ngày 21/10/2020.
Tính đến ngày xét xử Công ty CP K còn phải thanh toán cho bà V1 tiền lãi tính đến ngày 18/7/2025 là 1.338.297.534 đồng.
Cụ thể tiền lãi như sau:
| Hợp đồng | KTBĐ (VNĐ) | Ngày bắt đầu tính lãi | Ngày kết thúc tính lãi | Số ngày tính lãi | Lãi suất | Tiền Lãi (VNĐ) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Hợp đồng D11 | 1.966.000.000 | 11/12/2018 | 18/7/2025 | 2411 | 6% | 779.380.521 |
| Hợp đồng D11 | 1.966.000.000 | 23/10/2020 | 18/7/2025 | 1729 | 6% | 558.917.014 |
Tiền bảo đảm là 3.933.000.000 đồng. Tổng cộng Công ty CP K phải thanh toán cho bà V1 số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2025 là 5.271.297.534 đồng.
* Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Toà án tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất ngày 13/3/2025. Đến buổi hòa giải lần thứ 2, bà V1 có yêu cầu phản tố được ghi nhận trong biên bản hòa giải ngày 07/5/2025, trong đó có nội dung chấm nhất đến Tòa án không nhận được đơn phản tố của bà V1. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 16/6/2025, bà V1 mới nộp yêu cầu phản tố của mình do vậy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn phản tố của bà V1 là có căn cứ.
* Về yêu cầu đưa người vào tham gia tố tụng
11
Quá trình giải quyết vụ án, đại diện bị đơn đề nghị triệu tập chủ đầu tư dự án là Công ty TNHH P và ông Vũ Tiến T2 tham gia vụ án này với vai trò là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Xét thấy Công ty TNHH P không liên quan đến việc kí kết hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn. Ông Vũ Tiến T2 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 theo Thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm ngày 22/10/2020. Vì vậy, việc đại diện bị đơn yêu cầu đưa những người trên vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3] Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đối với yêu cầu tuyên chấm dứt Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 không được chấp nhận.
Công ty CP K phải chịu án phí DSST là 113.271.000 đồng đối với toàn bộ số tiền phải hoàn trả cho bị đơn.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty CP K, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2, thành phố Hà Nội.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 201, Điều 202, Điều 271, Điều 273, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần K.
- Buộc Công ty cổ phần K phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 tổng số tiền tính đến ngày 18/7/2025 là: 5.271.297.534 đồng. Trong đó tiền bảo đảm lần 1 là 1.966.500.000 đồng tính từ ngày 11/12/20018 + tiền bảo đảm lần 2 là 1.966.500.000 đồng tính từ ngày 23/10/2020 = 3.933.000.000 đồng, tiền lãi của 2 khoản tiền trên tính đến ngày 18/7/2025 là 1.338.297.534 đồng.
Tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 giữa Công ty cổ phần K và ông Vũ Tiến T2; Thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo đảm ngày 22/10/2020 giữa ông Vũ Tiến T2, bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và Công ty cổ phần K từ ngày 07/11/2023;
12
Kể từ ngày 19/7/2025 cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần K phải tiếp tục chịu lãi đối với khoản tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Không chấp nhận đơn phản tố của cho bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 về việc tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng bảo đảm số D11/2018/SSWV/HĐBĐ ngày 11/12/2018 giữa Công ty cổ phần K và ông Vũ Tiến T2 và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Về án phí
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
* Án phí dân sự sơ thẩm
Bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Công ty cổ phần K phải chịu 113.271.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Công ty cổ phần K đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ngày 31/10/2024 của Công ty Cổ phần T4. Công ty cổ phần K còn phải nộp 112.971.000 đồng.
* Án phí dân sự phúc thẩm
Bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 và Công ty cổ phần K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Trả lại Công ty cổ phần K 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003813 ngày 08/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Trả lại bà Nguyễn Thị Quỳnh V1 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003607 ngày 06/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nợ gốc, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Bình |
13
Bản án số 69/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 69/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
