Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 67/2026/DS-PT

Ngày 30 - 01 - 2026

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền

Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Duyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 434/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 484/2025/QĐ-PT ngày 12/12/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 16/QĐ-PT ngày 08/01/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1981; Địa chỉ: C H, xã Q, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 và bà Bế Thị C, sinh năm 1985; Địa chỉ: Buôn K, xã C, tỉnh Đắk Lắk. Đều có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Văn Đức M, Luật sư thuộc Văn phòng L chi nhánh Đ, Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: A N, xã Q, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị V trình bày:

Vào ngày 30/01/2022, bà V có nhận chuyển nhượng thửa đất tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk của vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C với số tiền 1.100.000.000đ. Bà V đã chuyển khoản vào tài khoản của bà C số tiền 100.000.000đ để đặt cọc. Do đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất, chỉ mới có số liệu đo đạc nên hai bên thỏa thuận để bà V tự làm hồ sơ cấp GCN, khi nào làm đủ thủ tục nộp lên Phòng Tài nguyên Môi trường huyện C, hồ sơ mang tên bà V thì bà V chồng đủ số tiền còn lại là 1.000.000.000đ.

Trong thời gian làm hồ sơ thì bị gián đoạn do dịch covid, hơn nữa việc làm thủ tục hồ sơ cấp GCN phải được thực hiện theo trình tự, quy định của pháp luật về mặt thời gian, vấn đề này bà V có thông báo cho ông T, bà C biết nhưng hai ông bà không hợp tác để làm thủ tục và tiếp tục việc mua bán mà đổ lỗi cho bà V làm chậm và tự ý hủy hợp đồng chuyển nhượng.

Đến ngày 04/10/2022, ông T và bà C hẹn bà V ra quán cà phê và hai bên thống nhất là hủy giấy cọc và không thực hiện việc chuyển nhượng đất nữa, bà V yêu cầu trả lại số tiền cọc thì ông T, bà C đồng ý nhưng xin chờ đến tết có mấy ông anh ở Lào về thì sẽ trả tiền cho bà V, nhưng từ đó đến nay ông T và bà C cố tình né tránh, không chịu trả tiền cho bà V. Vì vậy, bà V yêu cầu Toà án giải quyết:

  1. Tuyên vô hiệu hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất đề ngày 30/01/2022 giữa bà V với ông T, bà C.
  2. Buộc ông T và bà C phải trả số tiền cọc là 100.000.000đ, bà V xin rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu tính lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên vô hiệu hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất đề ngày 30/01/2022 thấy rằng: Ngày 30/01/2022, nguyên đơn bà Phạm Thị V và bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Bế Thị C ký hợp đồng đặt cọc có nội dung ông T, bà C đồng ý chuyển nhượng cho bà V thửa đất số 2, tờ bản đồ số 64, diện tích 28.998,4m2 tại thôn H, xã Q, huyện C với giá 1.100.000.000 đồng, bà V đã đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng. Tại thời điểm này, ông T, bà C chưa được cấp GCNQSD đất. Bản án sơ thẩm tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 30/01/2022 bị vô hiệu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 122, Điều 123 Bộ luật dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Đắk Lắk.

[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị V. Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 30/01/2022 giữa bên đặt cọc là bà Phạm Thị V và bên nhận cọc là ông Nguyễn Văn T, bà Bế Thị C về việc đặt cọc để chuyển nhượng 28.998,4m2 đất tại xã Q, huyện C là vô hiệu. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C phải trả cho bà Phạm Thị V số tiền cọc đã nhận là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

[2] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C phải trả lãi suất với số tiền là 25.000.000 đồng.

Nơi nhận:

  • - Toà TP TANDTC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 3;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 67/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị V yêu cầu T phải trả tiền cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger