|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 16 tháng 12 năm 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đà và ông Nguyễn Thiện Pháp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc H (Đầu Bự), sinh ngày 01/01/1989. Nơi cư trú: ấp H, xã A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con.
- Ngày 25/10/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 14/01/2015.
- Ngày 31/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/3/2017.
- Ngày 17/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 08/9/2020.
- Tiền án: Ngày 02/8/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/4/ 2012 (chưa thực hiện trách nhiệm dân sự).
- Tiền sự: Ngày 10/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sở cai nghiện bắt buộc, tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh A thời hạn 16 tháng. Đến ngày 14/11/2024 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/7/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Võ Văn N, sinh ngày 06/11/1994. Nơi cư trú: ấp C, xã C, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: ấp P, xã B, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Cẩm H1, sinh năm 1970; Vợ tên Đào Thị Thùy R, sinh năm 1994; con có 02 người, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2023. Ngày 22/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 31/12/2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/7/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp C, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Lý Thị Thùy L, sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp C, xã C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Anh Dương Hữu P, sinh năm 2000. Nơi cư trú: ấp H, xã A, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Thành N1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp H, xã A, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Trần Văn D1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp C, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Trúc Đ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 29/7/2025, Công an xã C thực hiện kế hoạch tuần tra. Khi đến cửa hàng của anh Dương Hữu P thuộc tổ A, ấp C, xã C, tỉnh An Giang, phát hiện Võ Văn N từ trong cửa hàng chạy ra nên Lực lượng khống chế và đưa N về trụ sở làm việc. N khai nhận khoảng tháng 6/2025 N và Nguyễn Ngọc H mua một cây kìm cộng lực cất giấu tại nhà của N để trộm cắp tài sản. Từ ngày 02/7/2025 đến ngày 29/7/2025, H, N và Lê Thành N1 thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã C, cụ thể:
Vụ thứ nhất: khoảng 00 giờ ngày 02/7/2025, H điều khiển xe mô tô biển số 67K7-5806 đến nhà N ở ấp C, xã C rủ N trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, N đồng ý. N điều khiển xe mô tô nói trên chở H đến tiệm áo cưới “Tước T2” của anh Nguyễn Thành T1 tại ấp C, xã C N dùng kìm cộng lực cắt đứt ổ khóa cửa, H đột nhập vào tiệm đập con heo đất lấy trộm số tiền 8.000.000 đồng, 01 đồng hồ đeo tay loại Orient và 01 đồng hồ Tissot dây kim loại. Sau khi trộm, H chia cho N 2.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: khoảng 00 giờ ngày 20/7/2025, H điều khiển xe mô tô biển số 67K7-5806 đến nhà rủ N trộm cắp tài sản, N đồng ý. N điều khiển xe chở H mang theo kìm cộng lực đến tiệm thuốc tây “Lý Linh” của chị Lý Thị Thùy L tại ấp C, xã C, tỉnh An Giang. N dùng kìm cắt ổ khóa, H đột nhập vào trong tiệm lấy số tiền 10.000.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Chopard. Sau đó, H chia cho N 3.000.000 đồng và tặng cho Nguyễn Thị Trúc Đ đồng hồ hiệu Chopard.
Vụ thứ ba: khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/7/2025, N điện thoại rủ N1 trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài, N1 đồng ý. N1 điều khiển xe mô tô biển số 66M2-5563 cửa N1 chở N đến cửa hàng của anh Dương Hữu P tại ấp C, xã C N1 đứng ngoài canh đường, N dùng kìm cộng lực cắt 02 ổ khóa cửa đột nhập vào trong cửa hàng lấy trộm 01 hộp giấy bên trong có 01 nhẫn kim loại màu trắng bạc, khi N đi ra đến cửa thì bị Lực lượng Công an xã C phát hiện và mời N về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y04, màu trắng sim số 0392939404; 01 cây kìm kim loại có 02 lưỡi cắt và 01 túi vải màu xanh có sợi dây đeo màu đen; xe mô tô gắn biển số 67K7-5806; 01 nón bảo hiểm màu đen, hiệu nón S; 01 đôi dép nhựa màu đen xám; 02 khẩu trang y tế màu đen; 01 cái mũ bảo hiểm màu xám bạc; 01 cái nón vải màu đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3s màu xanh, màn hình bị rạn nứt, sim số 0945851415 và 0879725198; 01 nón bảo hiểm màu cam; 01 chiếc nhẫn kim loại màu trắng bạc, có gắn viên đá lớn ở giữa và các viên đá nhỏ xung quanh; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno3, màu xanh, mặt lưng bị rạn nứt, sim số 0928537372; xe mô tô gắn biển số 66M2-5563; 02 ổ khóa màu vàng trắng có hàng chữ Zsolexmax; 01 ổ khóa bằng kim loại màu trắng, trên thân ổ khóa có chữ HDPA 60mm; 01 cái đồng hồ đeo tay hiệu Chopard; 02 đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, loại dung lượng 4,7G.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã C, xác định:
Vụ trộm cắp tài sản ngày 02/7/2025 gồm: 01 đồng hồ đeo tay hiệu Orient, dây da màu đen, trị giá 700.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Tissot, dây bằng kim loại màu trắng, trị giá 500.000 đồng; 01 con heo đất giá trị 72.000 đồng; 01 ổ khóa bằng kim loại màu trắng, trên thân ổ khóa có chữ HDPA, trị giá 72.000 đồng. Tổng trị giá là 1.344.000 đồng.
Vụ trộm cắp tài ngày 20/7/2025 gồm: 01 chiếc nhẫn màu bạc, trọng lượng 3,5 chỉ (loại vàng ý), có gắn hột đá màu đen, giá trị 31.762.500 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng 18 kara, trọng lượng 03 phân, loại nhẫn kiểu, có hình bông mai, trị giá 2.214.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng 18 kara, trọng lượng 0,3 chỉ, loại nhẫn kiểu, có hình trái tim, trị giá 2.214.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Senko, dây bằng kim loại màu trắng, trị giá 768.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Chopard, dây bằng kim loại màu trắng, trị giá 1.050.000 đồng; 01 ổ khóa bằng kim loại màu trắng, trên thân ổ khóa có chữ HDPA 60mm giá trị 28.000 đồng. Tổng giá trị 38.036.500 đồng.
Vụ trộm cắp tài sản ngày 29/7/2025: 01 chiếc nhẫn kim loại màu trắng bạc, có gắn viên đá lớn ở giữa và các viên đá nhỏ xung quanh, tổng khối lượng (bao gồm cả đá) 3,8894 gam, thành phần kim loại vàng (Au), có thành phần chủ yếu kim loại Đ1 (Cu) và K (Z1) trị giá 1.100.000 đồng; 02 ổ khóa màu vàng trắng có hàng chữ Zsolexmax, trên khoen khóa bị cắt lìa có vết cắt, trị giá 140.000 đồng. Tổng trị giá 1.240.000 đồng.
Kết luận giám định số 3766/KL-KTHS ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh, kết luận: “01 chiếc nhẫn kim loại màu trắng bạc, có gắn viên đá lớn ở giữa và các viên đá nhỏ xung quanh, tổng khối lượng (bao gồm cả đá) 3,8894 gam, gửi giám định không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au), có thành chủ yếu kim loại Đ1 (Cu) và K (Z)".
Kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 20 ảnh từ dữ liệu 04 tập tin video lưu trữ trong 02 đĩa DVD (ký hiệu A1, A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo. Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 03 điện thoại di động (ký hiệu A3-A5) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.
Ngày 07 tháng 8 năm 2025, Nguyễn Ngọc H, Võ Văn N bị khởi tố, điều tra.
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSKV10 ngày 24/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đầu Bự), Võ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc H, Võ Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Tuy nhiên, các bị cáo không thừa nhận có lấy trộm số tiền 7.000.000 đồng, 01 nhẫn bạc, 02 nhẫn vàng loại 18kara và 01 đồng hồ đeo tay Senko của Lý Thị Thùy L.
Bị hại Nguyễn Thành T1, Lý Thị Thùy L, Dương Hữu P; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thành N1, Trần Văn D1, người làm chứng Nguyễn Thị Trúc Đ trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Chị L khai ngoài các tài sản đã nêu trong nội dung vụ án, L còn mất số tiền 7.000.000 đồng, 01 nhẫn bạc, 02 nhẫn vàng loại 18kara và 01 đồng hồ đeo tay S1 nhưng không có chứng cứ nào để chứng minh H, N trộm các tài sản trên. Các bị hại yêu cầu nhận lại tài sản hoặc bồi thường theo quy định.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; riêng đối với bị cáo H còn áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đầu Bự) mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Võ Văn N mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung: không. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại các tài sản bị cáo đã lấy trộm. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận và bào chữa gì khác. Nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Thành T1; tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Võ Văn N và Nguyễn Ngọc H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 02/7/2025, tại ấp C, xã C, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Ngọc H và Võ Văn N thực hiện hành vi lấy trộm 8.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay loại Orient, trị giá 700.000 đồng và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Tissot, trị giá 500.000 đồng, của Nguyễn Thành T1. Ngày 20/7/2025 H và N lấy trộm 01 đồng hồ hiệu Chopard trị giá 1.050.000 đồng và 10.000.000 đồng của Lý Thị Thùy L. Ngày 29/7/2025, N tiếp tục lấy trộm 01 nhẫn kim loai màu trắng bạc trị giá 1.100.000 đồng của Dương Hữu P. Tổng trị giá tài sản của H chiếm đoạt là 20.250.000 đồng. Tổng trị giá tài sản của N chiếm đoạt là 21.350.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Văn N và Nguyễn Ngọc H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Võ Văn N và Nguyễn Ngọc H là những người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Các bị cáo biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện các bị cáo xem thường pháp luật. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội từng bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Văn N, Nguyễn Ngọc Hậu B áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hậu B áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Mặc dù tính chất vụ án ít nghiệm trọng, nhưng đối với bị cáo H là người có nhân thân rất xấu, có nhiều tình tiết tăng nặng, các lần đi trộm bị cáo là người rủ bị cáo N, sau khi lấy được tài sản, bị cáo được chia tiền nhiều hơn bị cáo N. Đối với bị cáo N, mặc dù chỉ có một tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản; bị cáo tham gia cùng bị cáo H hai vụ với vai trò rất tích cực, là người chở bị cáo H, dùng kìm cộng lực cắt khóa, canh đường cho bị cáo H vào nhà lấy tài sản, nên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo H và N đều như nhau. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại thì phải có trách nhiệm bồi thường. Bị hại Nguyễn Thành T1, Dương Hữu P yêu cầu các bị cáo bồi thường tài sản bị mất; đối với bị hại Lý Thị Thùy L yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng và 01 đồng hồ hiệu Chopard. Tại phiên tòa, bị cáo H và N thống nhất liên đới bồi thường theo yêu cầu của các bị hại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3s màu xanh và 01 xe mô tô biển số: 67K7-5806 là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối 01 Một điện thoại di động hiệu OPPO Reno3, 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y04, màu trắng không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và các vật chứng là tài sản của bị hại nên trả lại cho chủ sở hữu. Đối với 02 đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, loại dung lượng 4,7G là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo tiếp tục lưu hồ sơ vụ án. Đối với những vật chứng khác không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đ), Võ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, riêng bị cáo H còn áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đầu Bự) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 7 năm 2025.
Xử phạt bị cáo Võ Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 7 năm 2025
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đ), Võ Văn N có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Thành T1 số tiền: 9.200.000 đồng (chín triệu hai trăm ngàn đồng); bồi thường cho bà Lý Thị Thùy L số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động hiệu OPPO A3s màu xanh, màng hình bị rạng nứt, IMEI1: 867759051099417, IMEI2: 867759051099391, sim số: 0945851415 và sim số: 0879725198 (kèm theo biên bản niêm phong); Một xe mô tô Biển số: 67K7-5806; Số máy: VLFNTIP52FMH340200649, Số khung: RNTWCH2NT41200649 (đã qua sử dụng).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đ) Một điện thoại di động hiệu VIVO Y04, màu trắng sim số 0392939404, IME I 1: 866254081568822, IMEI 2: 866254081568830 (kèm theo biên bản niêm phong).
Trả lại cho Lê Thành N1 một điện thoại di động hiệu OPPO Reno3, màu xanh, mặt lưng bị rạn nứt, IMEI1: 860202045924215; IMEI2: 860202045924207, Sim số: 0928537372 (kèm theo biên bản niêm phong).
Trả lại cho Dương Hữu P một chiếc nhẫn kim loại màu trắng bạc, có gắn viên đá lớn ở giữa và các viên đá nhỏ xung quanh, tổng khối lượng (bao gồm cả đá): 3,8894 gam, gửi giám định không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au), có thành phần chủ yếu kim loại Đ1 (Cu) và K (Zn), kèm theo biên bản niêm phong; một túi vải màu đỏ và một hộp giấy vuông hình chữ nhật.
Trả lại cho Lý Thị Thùy L một cái đồng hồ đeo tay hiệu Chopard, dây bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.
Lưu hồ sơ vụ án hai đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, loại dung lượng 4,7G (kèm theo biên bản niêm phong);
Tịch thu tiêu hủy: Một cây kìm kim loại có 02 lưỡi cắt, màu xanh phần đuôi tay cầm có ốp cao su màu xanh đen, trên phần lưỡi cắt có chữ WYNN'S 900mm dài 90cm, nơi rộng nhất 17cm, nơi hẹp nhất 10cm và 01 túi vải màu xanh có sợi dây đeo màu đen (kèm theo biên bản niêm phong); Hai ổ khóa màu vàng trắng có hàng chữ Zsolexmax, trên phen khoá bị cắt lửa có vét cắt tạo bởi công cụ 02 lưỡi cắt gây ra (kèm theo biên bản niêm phong); Một nón bảo hiểm màu đen (hiệu nón S); Một nón bảo hiểm màu cam; Một đôi dép nhựa màu đen xám, trên quai dép có chữ Spost; Hai khẩu trang y tế màu đen; Một cái mũ bảo hiểm màu xám bạc phía sau nón có chữ nón sơn; Một cái nón vải màu đen, phía trước nón có hình con ong; Một cái ổ khóa bằng kim loại màu trắng, trên thân ổ khóa có chữ HDPA 60mm, trên phần móc khóa có vết cắt rời (kèm theo biên bản niêm phong) (tất cả đã qua sử dụng) (đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang)
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H (Đ), Võ Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và cùng liên đới chịu 960.000 đồng án phí dân sự trong hình sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H và ĐP phạm tội Trộm cắp tài sản
