Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2026/DS-PT

Ngày: 27/01/2026

Về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Ông Dư Thành Trung

Các Thẩm phán: Ông Đặng Ngọc Bình

Bà Nguyễn Thị Bích Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang- Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 27/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 428/2025/TLPT-DS ngày 18/11/2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án sơ thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1- Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 667/2025/QĐ-PT ngày 10/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 497/2025/QĐ-PT ngày 29/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 15/2026/QĐ- PT ngày 14/01/2026; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Ông Nguyễn D (chết ngày 22/11/2025).

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

1. Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Tổ D, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

3. Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

4. Ông Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ D, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

5. Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Lê Hồng T, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số B N, phường L- Đ, tỉnh lâm Đồng.

6. Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

7. Bà Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 1986.

Địa chỉ: T tại nhà T, phường C- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thúy S, sinh năm 1945.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X-Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Tổ D, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

3. Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

4. Ông Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ D, thôn T, xã X, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

5. Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Lê Hồng T, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số B N, phường L- Đ, tỉnh lâm Đồng.

6. Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ C, thôn T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

7. Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: 1 T, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

8. Ban Q1.

Địa chỉ: số B đường 3¼, phường X- Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Ông T, ông Q, ông C có mặt; các đương sự khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, lời khai và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C trình bày:

Ông Nguyễn Ngọc C là con ruột của ông Nguyễn D (đã chết 2025) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết năm 2013). Hai ông bà có 04 người con chung gồm: Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Ngọc L1.

Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng: Năm 1990, ông C cùng mẹ là bà Nguyễn Thị Đ vào canh tác trên các thửa đất 20, 28, tờ bản đồ số 21, xã X cũ, vốn là đất của bà nội là bà Đinh Thị C1 (đã chết năm 1995). Từ năm 1990 đến năm 2000, ông và mẹ đã khai phá và mở rộng diện tích thêm khoảng 15.366m². Việc khai phá này chỉ có ông và mẹ trực tiếp thực hiện vì ông Nguyễn D và bà Đ đã không sống chung với nhau từ khi ông 4 tuổi. Các em của ông còn nhỏ và đang đi học. Cùng thời điểm này, ông Nguyễn D có quan hệ với bà Nguyễn Thị Thúy S và đã chuyển ra ở cùng bà S từ khoảng năm 1980, nên những người còn lại trong gia đình không qua lại với ông Nguyễn D.

Ông C xác định mảnh đất thuộc các thửa 18, 19, 20, 21, 22 và 28 tờ bản đồ XT- 21 có tổng diện tích 16.666m². Trong đó, 1.300m² là đất của bà Đinh Thị C1 để lại và 15.666m² là đất do ông và mẹ ông khai hoang.

Diễn biến tranh chấp và yêu cầu khởi kiện: Năm 2001, ông và mẹ đã cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L1 mượn một phần đất. Cùng lúc, ông và mẹ chuyển sang làm ở một lô đất khác do ông Nguyễn D đang làm, và cho ông Nguyễn D mượn phần đất còn lại. Việc cho mượn không có giấy tờ. Từ năm 2001 đến 2016, ông vẫn thường xuyên đến xem đất. Năm 2016, ông thấy ông Nguyễn D và ông Nguyễn Ngọc L1 đang trồng cà phê. Từ năm 2017 đến nay, do mâu thuẫn, ông không còn đến mảnh đất đó nữa. Ông C và ông Nguyễn Ngọc L, với tư cách là người thừa kế hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ, đã nhiều lần yêu cầu ông Nguyễn D trả lại đất, nhưng ông Nguyễn D không hợp tác.

Nay, ông Nguyễn Ngọc C khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn D trả lại diện tích đất theo họa đồ đo vẽ hiện trạng ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ).

2. Bị đơn ông Nguyễn D trình bày:

Nguồn gốc các thửa đất 18, 19, 20, 21, 22 và 28 thuộc tờ bản đồ số 21, địa chỉ tổ D, thôn T, xã X, thành phố Đ cũ, là do mẹ ông là bà Đinh Thị C1 (đã chết năm 1995) cùng anh trai là ông Nguyễn T1 (đã chết) khai hoang từ năm 1957. Năm 1987, bà Đinh Thị C1 và ông Nguyễn T1 đã giao toàn bộ diện tích đất này

cho ông D để canh tác và sử dụng. Năm 1990, ông D để lại cho bà Nguyễn Thị Đ (vợ trước, đã chết) canh tác các thửa 18, 19, 21, 22. Phần đất còn lại gồm thửa 20, 28, ông D cùng bà Nguyễn Thị Thúy S (vợ sau) và các con canh tác, sử dụng. Ranh giới và lối đi giữa các thửa đất này là rõ ràng.

Năm 1997, ông D đã kê khai đăng ký toàn bộ diện tích đất vào sổ mục kê. Từ năm 1997 đến năm 2014, ông và bà Nguyễn Thị Thúy S cùng các con đã canh tác ổn định, trồng cà phê trên thửa 28 và trồng hoa màu trên thửa 20. Đến năm 2014, do tuổi cao sức yếu, ông D giao đất cho con là bà Nguyễn Thị Tuyết N tiếp tục canh tác. Bà N đã san ủi đất bằng phẳng và làm nhà vòm khoảng 300m² để trồng bông và hoa màu. Hiện tại, ông D đang giao đất cho con là ông Nguyễn Ngọc Q và bà Nguyễn Thị Thúy H và bà Nguyễn Thị Tuyết N để canh tác, sử dụng. Bà Nguyễn Thị Thúy S đã già nên không tiếp tục canh tác nữa.

Ông D cũng đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ về việc bà S và ông Q từng bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp trong quá trình sử dụng đất. Điều này chứng tỏ đất thuộc quyền sử dụng của ông, thì những người sử dụng đất của ông mới bị xử phạt. Vì vậy, ông Nguyễn D không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Bà là con ruột của ông Nguyễn D và bà Nguyễn Thị Thúy S. Bà cho biết hiện nay bố bà đã giao cho bà và em trai là ông Nguyễn Ngọc Q canh tác trên thửa đất số 20 và một phần thửa đất số 28 để lấy tiền nuôi bố mẹ. Bà đang canh tác cây ngắn ngày trên phần đất ông C tranh chấp. Theo bà được biết, phần đất này là do bà Đinh Thị C1 để lại cho ông Nguyễn D, sau đó ông D đã chia cho bà Đ (vợ trước) một nửa và ông D cùng bà S một nửa. Bà cho rằng việc ông C tranh chấp và yêu cầu ông D trả lại đất là không đúng, không có căn cứ, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc L1 trình bày:

Ông là con ruột của ông Nguyễn D và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết). Ông khẳng định nguồn gốc thửa đất số 20 và một phần thửa đất số 28 là của ông Nguyễn D. Ông cho biết trước đây, khi mẹ ông còn sống, ba ông sử dụng thửa đất 20 và một phần thửa 28, còn mẹ ông sử dụng các thửa 18, 19, 21, 22. Khoảng năm 1996, ông và mẹ làm chung, hai năm sau thì mẹ ông giao lại toàn bộ vườn cho ông canh tác và sử dụng ổn định cho đến nay. Ông cho rằng việc ông C tranh chấp, yêu cầu ông D trả lại đất là không đúng, vì phần đất ông D đang sử dụng có nguồn gốc là của ông D, không phải do ông C và bà Đ khai phá. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật vì việc khởi kiện của ông C là hoàn toàn không có căn cứ.

5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc L trình bày:

Ông thống nhất toàn bộ với lời trình bày của ông Nguyễn Ngọc C. Ông khẳng định nguồn gốc thửa đất 20 và một phần thửa đất số 28 là do bà Nguyễn Thị Đ và anh trai là ông Nguyễn Ngọc C khai phá trước năm 1994. Sau khi khai phá xong, ông C cùng mẹ liên tục trồng cây trên đất này cho đến khi bà nội ông chia đất cho ba mẹ ông. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

6. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Nguyễn Thị Thúy S trình bày:

Các ông bà đều thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn D và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc C.

7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Bà cho rằng phần đất ông Nguyễn Ngọc C tranh chấp với ông Nguyễn D có nguồn gốc do ông bà nội để lại cho ông D. Sau đó, ông D đã phân chia rõ ràng một bên cho bà Nguyễn Thị Đ và bên còn lại cho bà Nguyễn Thị Thúy S. Bà đề nghị hai bên cùng ngồi lại hòa giải để giải quyết tranh chấp.

8. Đại điện Ban Q1 trình bày:

Căn cứ Quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 02/7/2019 của UBND tỉnh L về việc điều chỉnh phạm vi, ranh giới, diện tích đất lâm nghiệp và cơ cấu 03 loại rừng giao Ban quản lý rừng Lâm Viên quản lý thì toàn bộ phạm vi, ranh giới thửa đất theo mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất theo hiện trạng ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ thuộc thẩm quyền quản lý của Ban Q1, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS 169293 cấp ngày 20/11/2019.

Ban Q1 cũng cung cấp các tài liệu liên quan kèm theo: Quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 02/7/2019 của UBND tỉnh L về việc điều chỉnh phạm vi, ranh giới, diện tích đất lâm nghiệp và cơ cấu 03 loại rừng giao Ban quản lý rừng Lâm Viên quản lý; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 169293 cấp ngày 20/11/2019.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại Bản án sơ thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 1- Lâm Đồng đã xử:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Ngọc C đối với lô đất có diện tích 12122,8m² thuộc một phần thửa

(20, 28, không có số thửa), tờ bản đồ số 21 tại thôn T, xã X, thành phố Đ (nay là phường X- Đ) theo hoạ đồ đo vẽ ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ).

Tạm giao 01 căn nhà tạm diện tích 44,4m², 01 nhà kính diện tích 3.200m², 01 hàng rào lưới B40 diện tích 53m² toạ lạc trên diện tích đất thuộc một phần thửa (20, 28, không có số thửa), tờ bản đồ số 21 toạ lạc thôn T, xã X, thành phố Đ (nay là phường X- Đ) cho bà Nguyễn Thị Thúy H, bà Nguyễn Thị Tuyết N quản lý, sử dụng cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí trách nhiệm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Đơn kháng cáo của bị đơn nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C và thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xuất phát từ việc ông Nguyễn Ngọc C khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn D trả lại cho ông diện tích đất tại một phần thửa (20, 28, đất không có số thửa), tờ bản đồ số 21 toạ lạc thôn T, xã X, thành phố Đ (nay là phường X- Đ) theo hoạ đồ đo vẽ hiện trạng quyền sử dụng đất ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C thấy rằng:

[3.1] Ông Nguyễn Ngọc C cho rằng nguồn gốc diện tích đất 12.122,8m² thuộc một phần thửa (20, 28, không có số thửa)tờ bản đồ số 21, tại xã X, thành phố Đ cũ do ông và mẹ là bà Nguyễn Thị Đ khai phá từ năm 1990, sử dụng canh tác đến năm 2001 thì cho ông Nguyễn D mượn để canh tác. Bị đơn ông Nguyễn D khẳng định nguồn gốc đất do mẹ ông là bà Đinh Thị C1 và anh trai ông là ông Nguyễn T1 khai hoang từ năm 1957, sau đó giao lại cho ông sử dụng.

[3.2] Tại Biên bản xác minh của UBND xã X (nay là phường X- Đ) xác nhận tại trang 151 sổ mục kê của UBND xã X, thành phố Đ cũ thể hiện thửa đất số 20, tờ bản đồ XT- 21 đứng tên người đăng ký kê khai là ông Nguyễn D với diện tích 3.115m²; thửa đất số 28, tờ bản đồ XT- 21 với diện tích 10.854m² không ghi tên người sử dụng đất.

[3.3] Tại Công văn số 188/UBND- KTHTĐT ngày 30/7/2025 của UBND phường X- Đ thể hiện nội dung: “...Căn cứ Quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 02/7/2019 của UBND tỉnh L về việc Điều chỉnh phạm vi, ranh giới, diện tích đất lâm nghiệp và cơ cấu 03 loại rừng giao Ban quản lý rừng L quản lý. Theo họa đồ đo vẽ hiện trạng của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ngày 16/12/2024, vị trí đất do Ban Q1 quản lý...”.

[3.4] Tại Văn bản trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban Q1 khẳng định căn cứ Quyết định số 1424/QĐ- UBND ngày 02/7/2019 của UBND tỉnh L, toàn bộ phạm vi, ranh giới thửa đất theo mảnh đo đạc chỉnh lý hiện trạng ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ thuộc thẩm quyền quản lý của Ban Q1, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 169293 ngày 20/11/2019.

[3.5] Như vậy, toàn bộ diện tích đất các bên đang tranh chấp đã được xác định là đất lâm nghiệp và được UBND tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Q1. Ông Nguyễn Ngọc C không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh ông là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích tranh chấp. Do đó, ông Nguyễn Ngọc C không có quyền khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử

dụng đất đối với phần đất này theo quy định tại Điều 186, 187 Bộ Luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định.

[3.6] Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tạm giao các tài sản trên đất tranh chấp cho những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng là bà Nguyễn Thị Tuyết N và bà Nguyễn Thị Thúy H cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là đúng quy định.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C; cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh lâm Đ1 tại phiên toà là đúng quy định.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C; giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 98/2025/DS- ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lâm Đồng.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Ngọc C đối với lô đất có diện tích 12122,8m² thuộc một phần thửa (20, 28, không có số thửa), tờ bản đồ số 21 tại thôn T, xã X, thành phố Đ (nay là phường X- Đ) theo hoạ đồ đo vẽ ngày 16/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ).

Tạm giao 01 căn nhà tạm diện tích 44,4m², 01 nhà kính diện tích 3.200m², 01 hàng rào lưới B40 diện tích 53m² toạ lạc trên diện tích đất thuộc một phần thửa (20, 28, không có số thửa), tờ bản đồ số 21 tại thôn T, xã X, thành phố Đ (nay là phường X- Đ) cho bà Nguyễn Thị Thúy H, bà Nguyễn Thị Tuyết N quản lý, sử dụng cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu 68.182.765 đồng chi phí tố tụng (Ông C đã nộp đủ).

3. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Do đình chỉ giải quyết vụ án nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc C 56.060.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0011370 ngày 02/02/2023 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001778 ngày 19/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Lâm Đồng).

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006387 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Bình

Nguyễn Thị Bích Thảo

Dư Thành Trung

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng GĐ, KT, TTr &THA;
  • - TAND khu vực 3- Lâm Đồng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng- Phòng THADS khu vực 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dư Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 27/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 66/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger