Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - BẮC NINH

Bản án số: 66/2025/DS-ST

Ngày 14/11/2025

V/v tranh chấp giao dịch dân sự, tranh

chấp tài sản chung, di sản thừa kế

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Cương

2. Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày ngày 27 tháng 9, ngày 07 và 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 130/2025/TLST-DS ngày 01/7/2025 (vụ án thụ lý số 208/2023/TLST-DS ngày 12/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cũ) về việc “tranh chấp giao dịch dân sự, tranh chấp tài sản chung, di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-DS ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (cũ), Thông báo về việc thay đổi thời gian, địa điểm xét xử số 01/TB-TA ngày 07/7/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 1B/2025/QÐST-DS ngày 15/7/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 12/2025/QÐST-DS ngày 13/8/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2025/QÐST-DS ngày 29/8/2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 15/9/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 51/2025/QÐST-DS ngày 27/9/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 03/TB-TA ngày 21/10/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Y, sinh năm 1964

Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh

- Bị đơn: Anh Phan Văn C, sinh năm 1983

Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh C:

Luật sư Lê Thị Ngọc L – Văn phòng Luật sư Lê L và cộng sự

Địa chỉ: Phố H, xã T, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phan Thị H, sinh năm 1988
  2. Anh Phan Duy N, sinh năm 1992
  3. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1988
  4. Cùng địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

  5. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1967
  6. Địa chỉ: Bản Rừng Dài, xã Tam Tiến, tỉnh Bắc Ninh

  7. Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1942
  8. Ông Phan Văn N1, sinh năm 1970
  9. Địa chỉ: Bản T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

  10. Bà Phan Thị N2, sinh năm 1973
  11. Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

  12. Bà Phan Thị N3, sinh năm 1975
  13. Địa chỉ: Bản Đ, xã X, tỉnh Bắc Ninh.

  14. Bà Phan Thị N4, sinh năm 1977
  15. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.

  16. Chị Nguyễn Thị N5, sinh năm 1994
  17. Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, tỉnh Thanh Hóa.

  18. Chị Lưu Thị L2, sinh năm 1991
  19. Địa chỉ: Khu P, xã L, tỉnh Lạng Sơn.

  20. Bà Nguyễn Thị N6, sinh năm 1966
  21. Chị Phan Thị D1, sinh năm 1991
  22. Cùng địa chỉ: Bản T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

  23. Chị Phan Thị N7, sinh năm 1989
  24. Địa chỉ: Bản R, xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  25. Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Quốc O – Chuyên viên Phòng Kinh tế xã Đ đại diện theo ủy quyền.

(Bà Y có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án. Anh C, Luật sư Lê Thị Ngọc L có mặt. Các đương sự khác vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn là bà Đặng Thị Y trình bày: Bà và ông Phan Văn N8 kết hôn khoảng năm 1981-1982, sau khi kết hôn bà sinh sống tại bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến ngày 09/5/2013 ông N8 chết và không để lại di chúc. Quá trình chung sống bà và ông N8 xây dựng được khối tài sản chung là thửa đất số 322, tờ bản đồ số 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, huyện Y, diện tích là 524,1m² trong đó có 400m² đất ở và 124,1m² đất CLN và 01 ngôi nhà cấp 4. Di sản ông N8 để lại là ½ diện tích đất thuộc thửa đất 322, tờ bản đồ số 58 (diện tích thửa đất là 524,1m²) và nhà cấp 4 có diện tích khoảng 40m² xây dựng trên thửa đất. Sau khi ông N8 chết gia đình bà chưa phân chia di sản thừa kế mà ông N8 để lại. Bà đã trao đổi với anh C để yêu cầu anh C và các hàng thừa kế khác của ông N8 thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nhưng anh C không thỏa thuận. Nay hàng thừa kế thứ nhất của ông N8 gồm:

  • Bố ông N8 là ông Phan Văn N9 chết ngày 22/11/2013, (cụ N9 chết không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất của cụ N9 gồm bà Nguyễn Thị D, bà Phan Thị H1, ông Phan Văn N1, bà Phan Thị N2, bà Phan Thị N3, bà Phan Thị N4). Ngoài ra cụ N9 có con trai là ông Phan Văn N10, sinh năm 1965, chết năm 2007 chết trước thời điểm ông N8 và cụ N9 chết.
  • Mẹ ông N8 là cụ Nguyễn Thị D, Vợ ông N8 là Đặng Thị Y, các con ông N8 là Phan Văn C, Phan Thị H2 và Phan Duy N.

Nay bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Chia tài sản chung của bà và ông Phan Văn N8 là thửa đất số 322, tờ bản đồ số 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, diện tích là 524,1m² trong đó có 400m² đất ở và 124,1m² đất CLN và 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng trên đất. Bà yêu cầu Tòa án chia cho bà và ông N8 mỗi người được hưởng ½ diện tích đất và tài sản trên đất.
  2. Chia thừa kế tài sản ông Phan Văn N8 để lại là ½ diện tích thửa đất số 322, tờ bản đồ số 58, địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, thửa đất có diện tích là 524,1m² trong đó có 400m² đất ở và 124,1m² đất CLN và 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng trên đất cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Văn N8 gồm cụ Nguyễn Thị D là mẹ đẻ, cụ Phan Văn N9 (những người thừa kế của cụ N9 được hưởng là Phan Thị H1, Phan Văn N1, Phan Thị N2, Phan Thị N3, Phan Thị N4), Đặng Thị Y, Phan Văn C, Phan Thị H và Phan Duy N. Bà có nguyện vọng chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan Văn N8 và bà có nguyện vọng được lấy phần đất giáp với phần đất bà được chia để thuận tiện trong quá trình sử dụng đất.

- Bị đơn là anh Phan Văn Công trình B:

Ngày 18/12/2000, thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 diện tích 524,1m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình do bố anh - ông N8 là chủ hộ, mẹ anh là bà Y, anh và hai em anh là H và N là các thành viên trong hộ.

Ngày 03/5/2013, bố anh là ông N8 chết không để lại di chúc. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố anh gồm mẹ anh, 03 chị em anh, ông bà nội anh là cụ N9 và cụ D.

Ngày 22/11/2013, ông nội anh chết không để lại di chúc. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông nội anh gồm bà nội anh là cụ D, các cô chú là bà H1, ông N1, bà N2, bà N3 và bà N4. Chú ruột anh là ông N10 đã chết năm 2007 (chết trước ông nội anh). Các con của chú N10 là chị N7 và chị D1;

Ngày 09/02/2015, UBND huyện Y cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cấp lần đầu cho hộ ông Phan Văn N8 thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 768943 cho hộ bà Đặng Thị Y được sử dụng thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 diện tích 524,1 m² gồm 400 m² đất ở và 124,1 m² đất CLN mà không có ý kiến của anh là không đúng pháp luật. (anh vừa là thành viên trong hộ gia đình, vừa là người thừa kế của bố anh). Cũng kể từ sau khi bố anh chết, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố anh chưa hề có văn

bản thỏa thuận nào về việc phân chia di sản thừa kế. Bà Y có cung cấp cho Tòa án văn bản phân chia tài sản thừa kế đã được UBND xã Đ chứng thực ngày 07/11/2014 có nội dung những người thừa kế của ông Phan Văn N8 là cụ D, bà Y, chị H, anh N thỏa thuận để bà Y được sử dụng toàn bộ diện tích 520 m² thuộc thửa số 6 tờ bản đồ số 29 ( nay là thửa số 322 tờ bản đồ số 58 mà bà Y yêu cầu phân chia). Anh thấy văn bản này không được sự đồng ý và cũng không có chữ ký của anh, của những người thừa kế của ông nội anh nên không đúng pháp luật. Anh thấy thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 là tài sản chung của hộ gia đình trong đó anh là một thành viên trong hộ tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên anh là một trong các đồng sử dụng đất được công nhận một phần quyền đối với thửa đất này; Ủy ban nhân dân huyện Y cấp đổi từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cấp lần đầu cho hộ ông N8 thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 768943 mang tên hộ bà Đặng Thị Y được sử dụng thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 diện tích 524,1 m² là không đúng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh vì tại thời điểm ngày 09/02/2015 thì anh không còn là thành viên trong hộ gia đình bà Y. Vì các lý do nêu trên, anh khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực ngày 07/11/2014 vô hiệu;
  2. Phân chia tài sản chung của anh trong khối tài sản chung của hộ gia đình là thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 diện tích 524,1 m² gồm 400 m² đất ở và 124,1 m² đất CLN. Anh yêu cầu chia cho anh 1 thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 tương ứng khoảng 60 m²;

Khi bố anh chết, anh đứng ra chi phí mai táng, mẹ anh và các em không có đóng góp gì. Số tiền chi lo mai táng, đổi mộ cho bố anh là 20.000.000 đồng. Ngoài ra, sau khi bố anh chết, mẹ anh đã nhờ anh ứng cho số tiền 20.496.000 đồng để trả Chi nhánh NHNN và PTNT huyện Y vào ngày 12/7/2013 là khoản tiền mà bố mẹ anh vay đã bị quá hạn. Khi vay tiền, bố mẹ anh đã thế chấp thửa số 322 mà hiện nay mẹ anh đang yêu cầu phân chia. Khi chia thừa kế, anh đề nghị Tòa án xem xét giải quyết khoản tiền chi phí mai táng 20.000.000 đồng mà anh đã chi và hoàn trả anh số tiền 20.496.000 đồng theo quy định. Ngoài ra khi làm đơn anh có yêu cầu chia thửa đất 306 và các thửa ruộng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh đã rút yêu cầu chia các tài sản này.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị H trình bày: Trong các tài sản tranh chấp giữa bà Y và anh C, chị để lại phần chị được hưởng cho bà Y. Chị đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cụ Nguyễn Thị D trình bày:

Ông N8 là con đẻ của cụ và chồng cụ là Phan Văn N9. Ông N8 và bà Y là vợ chồng và sinh được 03 người con đẻ là C, H và N. Con trai cụ (ông N8) chết ngày 03/5/2013 không để lại di chúc. Ngày 22/11/2013, chồng cụ là cụ N9 chết (chết sau ông N8) cũng không để lại di chúc. Khi còn sống, hộ gia đình ông N8 có tài sản là thửa đất số 322 tờ bản đồ số 58 diện tích 524,1m² gồm 400m² đất ở

và 124,1m² đất CLN là tài sản đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/12/2000. Nay cụ là mẹ đẻ của ông N8, là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N8. Bà Y yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế di sản của ông N9 đã chết để lại thì tùy thuộc tòa án xem xét. Cụ đồng ý yêu cầu chia thừa kế tài sản của con trai cụ đã chết để lại cho cụ. Cụ yêu cầu chia cho cụ bằng hiện vật. Phần tài sản cụ được chia thì cụ đồng ý để cho cháu nội cụ là anh C được hưởng toàn bộ mà không yêu cầu anh C phải trích trả bằng tiền cho cụ. Do cụ tuổi cao nên cụ đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phan Văn N1, bà Phan Thị H1, bà Phan Thị N2, bà Phan Thị N3 và bà Phan Thị N4 đều trình bày: Bố mẹ đẻ của các ông bà là cụ N9 và cụ D. Bố đẻ của ông bà chết ngày 22/11/2013 không để lại di chúc. Anh trai của ông bà là ông N8 chết ngày 03/5/2013 (chết trước cụ N9) không để lại di chúc. Do ông N8 chết trước cụ N9 nên cụ N9 là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N8. Do cụ N9 đã chết nên các ông bà là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N9 và được hưởng một phần phần di sản của ông N8 đã chết để lại cho cụ N9. Nay bà Y là vợ ông N8 yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và chia thừa kế di sản của ông N8 để lại thì tùy thuộc Tòa án xem xét. Ông bà đồng ý nhận phần di sản mà ông bà được hưởng, ông bà yêu cầu chia cho ông bà bằng hiện vật và phần ông bà được chia thì ông bà đồng ý để cho cháu là anh C được hưởng toàn bộ. Ông bà không yêu cầu anh C phải trích trả bằng tiền cho ông bà. Ông bà đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N6, chị Phan Thị D1 và chị Phan Thị N11 trình bày: Bà và các chị là vợ, con của ông Phan Văn N10 (là con của cụ N9, là em của ông N8), ông N10 đã chết ngày 29/12/2007. Bà và các chị từ chối nhận di sản của cụ N9 trong thửa đất 322 bà Y và anh C đang tranh chấp.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lưu Thị L2 trình bày:

Năm 2011 chị kết hôn với anh Phan Văn C. Sau khi kết hôn, chị chung sống cùng gia đình bà Y trên thửa đất 322 ở Bản Đ, xã Đ. Quá trình chung sống chị không xây dựng, tạo lập tài sản gì. Không đóng góp công sức, tiền bạc gì để tạo lập tài sản trên thửa đất này. Năm 2015 chị ly hôn với anh C. Khi ly hôn do chị và anh C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Nay chị không có ý kiến, yêu cầu gì về việc tranh chấp tài sản giữa bà Y và anh C. Chị đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị L1 trình bày:

Chị kết hôn với anh C năm 2016 và đang sinh sống trên thửa đất 322. Chị không có quyền lợi liên quan gì đến các tài sản trong vụ án này nhưng chị đề nghị Tòa án giữ nguyên ranh giới đất vợ chồng chị đang sử dụng vì đây là nơi ở duy nhất của vợ chồng chị.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị N5 trình bày:

Chị kết hôn với anh Phan Duy N (con trai của bà Y) tháng 11/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với bà Y trên ngôi nhà cấp 4. Đến năm

2020 thì xây mới ngôi nhà mái T. Vợ chồng chị có đóng góp khoản tiền 55.000.000đồng cho bà Y xây nhà. Nay bà Y yêu cầu chia tài sản thì vợ chồng chị nhường lại phần đóng góp của vợ chồng chị cho bà Y. Chị không nhận phần đóng góp này, không yêu cầu trích chia đóng góp. Ngoài ra chị không đóng góp được công sức, tiền bạc nào khác đối với các tài sản bà Y và anh C đang yêu cầu chia. Chị đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Đại diện Ủy ban nhân dân xã Đ trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 58, diện tích 524,1m² của bà Đặng Thị Y ở Bản Đ, xã Đ (nay là xã Đ) có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng mà có. Trước đây bà Y ở Bản T sau đó nhận chuyển nhượng thửa đất này. Năm 2000 thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ ông Phan Văn N8 (chồng bà Y) thể hiện là thửa số 06, tờ bản đồ 20, diện tích 520m². Năm 2013 ông N8 chết, cùng năm 2013 gia đình bà Y làm Văn bản phân chia thừa kế để lại cho bà Y toàn bộ thửa đất này. Văn bản được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Đ ngày 07/11/2013. Về trình tự thủ tục chứng thực Văn bản này thì hồ sơ không còn lưu trữ ở Ủy ban nhân dân xã nhưng qua xem xét văn bản trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Y thì thấy thiếu chữ ký của anh Phan Văn C là con trai của ông N8 nên văn bản này không đúng pháp luật. Căn cứ vào Văn bản phân chia thừa kế, bà Y được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 768943 cấp ngày 09/02/2015 thể hiện là thửa số 322, tờ bản đồ số 58, diện tích 524,1m² gồm 400m² đất ở nông thôn và 124,1m² đất CLN. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Y năm 2013 thiếu đơn xin đăng ký biến động, đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn trích đo thửa đất thì không cần có vì khi đó đã đo đạc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cấp không đúng đối tượng vì bà Y đã được phân chia di sản cho cá nhân bà Y nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cấp cho hộ bà Y là không đúng. Việc ghi sai đối tượng từ cá nhân thành hộ dẫn đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không giao dịch được.

Hiện nay theo kết quả đo đạc Tòa án cung cấp thì diện tích thửa đất là 685,7m² nhưng đây là do hộ sử dụng vào hành lang giao thông, diện tích đã được công nhận quyền sử dụng là 524,1m². Đề nghị Tòa án chia cho các đương sự sử dụng trong diện tích 524,1m². Diện tích tối thiểu để tách thửa đất ở nông thôn là 70m², chiều rộng 4m.

* Quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành định giá, thẩm định tài sản: Theo kết quả đo đạc, thửa đất có tổng diện tích là 685,7m² trong đó 524,1m² đã được công nhận quyền sử dụng, còn lại là đất thuộc hành lang giao thông. Về giá đất ở là 2.850.000 đồng/m², đất trồng cây lâu năm có giá 60.000 đồng/m². Trên phần đất anh C quản lý có Nhà ở cấp 4 xây năm 1997 trị giá 40.687.920đồng. Các đương sự đều nhất trí không có ý kiến gì về kết quả định giá, đo đạc. Ngoài ra còn định giá các công trình, cây cối khác trên toàn bộ thửa đất 322 nhưng các đương sự không yêu cầu chia các tài sản này.

Tại phiên tòa:

Bà Y yêu cầu chia thửa đất theo quy định của pháp luật trong đó bà được hưởng 1/2 thửa đất là tài sản chung và được hưởng di sản của ông N8. Đối với các công trình, cây cối bên phần đất bà đang quản lý thì bà không yêu cầu chia. Đối với các công trình, cây cối bên phần đất anh C đang quản lý thì bà xác định nhà ở cấp 4 xây năm 1997: 40.687.920đồng là tài sản của bà và ông N8 nhưng anh C có đóng góp làm mái và làm nền nhà, bà xác định phần anh C đóng góp trị giá 20.000.000đồng, còn lại 20.687.920đồng là của bà và ông N8, bà có 1/2 trị giá này, bà yêu cầu chia trị giá ngôi nhà. Còn các công trình, cây cối khác bà không yêu cầu chia. Bà tự nguyện cho anh N diện tích đất đủ 90,5m² đều là loại đất ở tại khu vườn trong phần đất bà đang quản lý.

Anh C yêu cầu chia tài sản chung và di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Anh đề nghị chia cho anh phần đất theo hiện trạng anh đang sử dụng. Anh thừa nhận nhà cấp 4 và nhà bếp bên phần đất anh quản lý là tài sản do bà Y và ông N8 xây dựng, Anh không yêu cầu chia các công trình, cây cối trên toàn bộ thửa đất.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh C là Luật sư Lê Thị Ngọc L trình bày:

Về nguồn gốc đất và tài sản trên đất:

Nguồn gốc thửa đất số 322 do ông N8 bà Y nhận chuyển nhượng ngày 27/9/1996 mà có nhưng đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số U 104424 ngày 20/12/2000 cho hộ gia đình ông N8; Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ thì hộ gia đình ông N8 gồm cả 05 người bao gồm ông N8, bà Y, anh C, chị H và anh N đều đang trực tiếp sử dụng đất. Kể từ khi cấp GCNQSDĐ, ông N8 bà Y không ai có ý kiến phản đối, không có ý kiến đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình nên được xác định là tài sản chung của hộ gia đình theo quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự năm 1995. Bà Y xác định đất là tài sản chung của bà và ông N8 để yêu cầu chia đôi đất là không đảm bảo quy định của pháp luật,; Anh C yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình là có căn cứ theo quy định tại Điều 212, Điều 219 BLDS. Anh C không đồng ý xác định di sản của ông N8 là ½ diện tích đất như ý kiến của bà Y;

Đối với nhà ở gắn liền trên đất: trị giá 40.687.926 đồng được xác định là tài sản của vợ chồng bà Y, ông N8. Anh C và bà Y đều xác định anh C có làm lại mái và nền nhà, trị giá phần anh C đóng góp trong tổng trị giá ngôi nhà là 20.000.000đồng. Còn lại bà Y và ông N8 mỗi người có ½ trị giá còn lại.

Đối với yêu cầu phản tố của anh C:

Về yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế đã được UBND xã Đ chứng thực ngày 07/11/2014 vô hiệu: Ngày 03/5/2013 ông N8 chết không để lại di chúc. Ngày 07/11/2014, bà Y, cụ D2, chị H và anh N lập văn bản phân chia tài sản thừa kế đồng ý để bà Y được hưởng toàn bộ diện tích 520m² thuộc thửa số 6 TBĐ số 29 cho bà Y và đã được UBND xã Đ chứng thực theo đề nghị của bà Y nhưng không trực tiếp nhìn thấy những người có tên trong văn bản phân chia ký trực tiếp vào văn bản. Văn bản chưa thể hiện đầy đủ những

người thừa kế của ông N8 nên vô hiệu theo quy định tại Điều 9 quy định về địa điểm chứng thực, Điều 10 quy định về thời điểm chứng thực, Điều 11 quy định về việc chữ ký khi thực hiện chứng thực và Điều 52 quy định về chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại NĐ số 75/2000/NĐ – CP ngày 08/12/2000 hướng dẫn về công chứng, chứng thực;

Về yêu cầu phân chia tài sản chung của hộ gia đình:

Về tiền mai táng phí ông N8 20.000.000 đồng và tiền anh C trả ngân hàng là 20.496.000 đồng. Tổng cộng là 40.496.000 đồng là khoản tiền mà những người có quyền về tài sản đều có trách nhiệm thanh toán trả anh C. Đề nghị HĐXX xem xét và phân chia theo quy định của pháp luật;

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị HĐXX:

  • Tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế đã được UBND xã Đ chứng thực ngày 07/11/2014 vô hiệu;
  • Chia cho anh C 1/5 thửa đất 322. Nếu không được chấp nhận thì đề nghị chia thửa đất làm 3 phần, bà Y và ông N8 mỗi người được 1/3, còn 1/3 thửa đất chia cho anh C, chị H và anh N. Đề nghị di sản thừa kế của ông N8 cho anh C theo quy định. Khoản nợ 81.630.000đồng là nợ của bà Y và ông N8, anh C đã trả thay ông bà 20.496.000đồng cần bù trừ cho anh C khi chia tài sản và chia thừa kế. Khoản mai táng phí anh C chi 20.000.000đồng là thực tế và hợp lý, đề nghị xem xét bù trừ cho anh C.

Về chi phí thẩm định, định giá và án phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật;

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.

  • Tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa số 6, tờ bản đồ số 29, diện tích 520m² tại Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã được UBND xã Đ chứng thực ngày 07/11/2014 vô hiệu.
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 768943 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 09/02/2015 cho bà Đặng Thị Y quyền sử dụng thửa số 322, tờ bản đồ số 58, diện tích 524,1m² gồm 400m² đất ở nông thôn và 124,1m² đất CLN tại Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • Giao cho anh Phan Văn Công Q sử dụng 196m² đất, trong đó có có 108m² đất ở và 88m² đất CLN tại thửa đất số 322, tờ bản đồ 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh trị giá 313.080.000đồng. Giao cho anh Phan Văn C được sở hữu ngôi nhà ở cấp 4 xây năm 1997 trị giá 40.687.920đồng gắn liền trên phần đất giao cho anh C. Buộc anh Phan Văn C phải trả cho bà Đặng Thị Y 12.859.939đồng trong đó có 1.805.993đồng của anh Phan Duy N.
  • Giao cho bà Đặng Thị Y quyền sử dụng 237,6m² đất trong đó có 201,5m² đất ở và 36,1m² đất CLN tại thửa đất số 322, tờ bản đồ 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh trị giá 576.441.000đồng.
  • Tạm giao cho bà Đặng Thị Y quản lý gồm 90,5m² đất ở tại thửa đất số 322, tờ bản đồ 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh và số tiền 1.805.993đồng của anh Phan Duy N đến khi anh Phan Duy N yêu cầu phân chia.
  • Buộc anh Phan Văn C phải trích chia cho bà Đặng Thị Y 12.871.939đồng). Trong đó có 1.805.993đồng của anh N
  • Đình chỉ yêu cầu của anh Phan Văn C yêu chia thửa đất số 306, tờ bản đồ số 58, diện tích 372,1m2 đất trồng cây lâu năm và yêu cầu chia 2.328m² đất nông nghiệp gồm các thửa số 146, tờ bản đồ số 10, xứ đồng Cửa Đập diện tích 840m²; thửa số 113, tờ bản đồ số 10, xứ đồng Mạc Cung, diện tích 120m²; thửa số 101 (a), tờ bản đồ số 12, xứ đồng Sau Đốm diện tích 576m²; thửa số 41 tờ bản đồ số 12 xứ đồng Cửa Hoằng diện tích 408m²; thửa số 179 tờ bản đồ số 12 xứ đồng Gốc Găng diện tích 144m²; thửa số 101 (b) tờ bản đồ số 12 xứ đồng Sau Đốm diện tích 240m² tại Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
  • Bà Đặng Thị Y phải chịu 2.225.000.đồng chi phí tố tụng. Anh C phải trả cho bà Y 2.220.000đồng chi phí tố tụng.
  • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh C đối phần di sản cụ D cho anh C. Anh C phải chịu 13.304.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Y đối với phần tài sản bà được hưởng theo pháp luật. Bà Đặng Thị Y phải chịu 9.847.000đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chị H cho.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến đề nghị của các đương sự. Căn cứ vào kết quả thảo luận nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Y khởi kiện anh C yêu cầu chia tài sản chung, di sản thừa kế. Anh C phản tố yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia thừa kế vô hiệu và chia tài sản chung, di sản thừa kế, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (cũ) thụ lý vụ án “tranh chấp giao dịch dân sự, tranh chấp tài sản chung, di sản thừa kế” là đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh kế thừa thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (cũ) thụ lý giải quyết vụ án và Tòa án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh xét xử vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3, 5 Điều 26, Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1.2. Các đương sự vắng mặt đã có đề nghị vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ông Phan Văn N8 chết ngày 03/5/2013. Ngày 06/12/2023, bà Y nộp đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản của ông N8 để lại là trong thời hiệu khởi kiện 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự.

[3] Về văn bản phân chia thừa kế ngày 07/11/2013 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Y năm 2015:

3.1. Theo kết quả xác minh tại địa phương và sự thừa nhận của các đương sự, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Nguồn gốc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 58, diện tích 524,1m² của bà Đặng Thị Y ở Bản Đ, xã Đ (nay là xã Đ) có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng năm 1996 mà có. Năm 2000 thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ ông Phan Văn N8 (chồng bà Y) thể hiện là thửa số 06, tờ bản đồ 20, diện tích 520m². Đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu và cấp cho hộ gia đình do vậy các thành viên trong hộ đều có quyền sử dụng đất. Thành viên trong hộ khi đó có ông N8, bà Y, anh C, chị H và anh N. Ngày 03/5/2013 ông N8 chết không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất của ông N8 theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005, và Điều 651 BLDS gồm cụ D và cụ N9, bà Y và 03 các con là C, H và N. Ngày 22/11/2013, cụ N9 chết không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất của cụ N9 gồm cụ D, bà H1, ông N1, bà N2, bà N3, bà N4 và ông N10 nhưng ông N10 đã chết năm 2007 (chết trước cụ N9) nên các con của ông N10 là chị N7 và chị D1 là người thừa kế thế vị. Ngày 07/11/2014, bà Y, cụ D, chị H và anh N lập văn bản phân chia tài sản thừa kế đồng ý để bà Y được hưởng toàn bộ diện tích 520m² thuộc thửa số 6 TBĐ số 29 cho bà Y và đã được UBND xã Đ chứng thực. Về trình tự thủ tục chứng thực Văn bản này thì hồ sơ không còn lưu trữ ở Ủy ban nhân dân xã nhưng qua xem xét văn bản trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Y thì thấy việc thỏa thuận phân chia thiếu ý kiến của những người thừa kế khác gồm anh C, bà H1, ông N1, bà N2, bà N3, bà N4, chị N7 và chị D1. Những người này đều có yêu cầu được hưởng thừa kế và dành phần của mình cho anh C. UBND xã Đ chứng thực văn bản không đầy đủ những người thừa kế của ông N8 nên vô hiệu theo quy định tại Điều 9 quy định về địa điểm chứng thực, Điều 10 quy định về thời điểm chứng thực, Điều 11 quy định về việc chữ ký khi thực hiện chứng thực và Điều 52 quy định về chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại NĐ số 75/2000/NĐ – CP ngày 08/12/2000 hướng dẫn về công chứng, chứng thực; Vi phạm Điều 108, 109, 122, 127, 128, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó Văn bản này vô hiệu

3.2. Xem xét quyết định cá biệt là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Y năm 2015:

Căn cứ vào Văn bản phân chia thừa kế ngày 07/11/2014, bà Y kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 768943 cấp ngày 09/02/2015 thể hiện là thửa số 322, tờ bản đồ số 58, diện tích 524,1m² gồm 400m² đất ở nông thôn và 124,1m² đất CLN. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Y năm 2015 thiếu đơn xin đăng ký biến động, đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này được cấp trên cơ sở văn bản phân chia thừa kế vô hiệu là không đúng pháp luật và không có giá trị, thửa đất không thuộc quyền sử dụng riêng của bà Y mà thuộc quyền sử dụng chung của các thành viên hộ gia đình ở thời điểm năm 2000 đã được công nhận quyền sử dụng. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Y ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh C và những người được hưởng thừa kế của ông N8. Căn cứ Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, cần hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Y năm 2015 để chia tài sản chung và chia thừa kế thửa đất.

[4]. Về quyền được hưởng tài sản chung là thửa đất số 322:

Năm 2000 thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ ông N8 thể hiện là thửa số 06, tờ bản đồ 20, diện tích 520m², cấp cho hộ gia đình. Theo kết quả đo đạc hiện nay thửa đất có diện tích 685,7m² trong đó có 524,1m² đã được công nhận quyền sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Y năm 2015, còn lại thuộc đất hành lang giao thông. Theo ý kiến của UBND xã Đ thì chia cho các đương sự được sử dụng 524,1m². Do vậy lấy diện tích 524,1m² để chia.

Bà Y cho rằng thửa đất là của bà và ông N8, bà yêu cầu chia cho bà 11 thửa đất và chia cho bà di sản được hưởng thừa kế của ông N8 nhưng yêu cầu của bà không được chấp nhận do thửa đất là do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng mà có nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, ông bà đã đồng ý cấp cho hộ gia đình nên các thành viên trong hộ đều có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, xét nguồn gốc thửa đất là do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng mà có, khi đó các con của ông bà còn nhỏ không đóng góp được gì nên xác định bà và ông N8 mỗi người có 1/3 diện tích thửa đất tương đương 174,7m² (trong đó có 133,33m² đất ở và 41,36m² đất CLN). Anh C, chị H, anh N được 1/3 thửa đất là 174,7m² (trong đó có 133,33m² đất ở và 41,36m² đất CLN), mỗi người được 58,23m² (trong đó có 44,44m² đất ở và 13,78m² đất CLN)

[5]. Về quyền được hưởng thừa kế của ông N8: Ông N8 chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của ông được phân chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của ông N8 gồm cụ N9, cụ D, bà Y (kết hôn năm 1983 là hôn nhân thực tế), anh C, chị H và anh N mỗi người được hưởng 1/6 di sản của ông N8 174,7m² (trong đó có 133,33m² đất ở và 41,36m² đất CLN) là 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN). Cụ D cho anh C phần của cụ.

Ngày 22/11/2013, cụ N9 chết không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N9 gồm cụ D, các con là bà H1, ông N1, bà N2, bà N3 và bà N4 đều trình bày để lại phần di sản cụ N9 được hưởng cho anh C. Ngoài ra còn có ông N10 đã chết năm 2007 (chết trước cụ N9). Các con của ông N10 là chị N7, chị D1 đều từ chối nhận di sản. Anh C, chị H và anh N cũng được hưởng thừa kế thế vị của ông N8 trong phần di sản cụ N9 được hưởng. Do vậy, phần di sản của ông N8 mà cụ N9 được hưởng 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN) được chia làm 7 phần bằng nhau gồm cụ D, bà H1, ông N1, bà N2, bà N3, bà N4 và suất thế vị của ông N8 (anh C, chị H và anh N). Anh C, chị H và anh N mỗi người được hưởng thế vị ông N8 đối với di sản cụ N9 để lại là 29,11m² : 7 = 4,158m² : 3 = 1,38m² tính cho loại đất ở. Tổng cộng anh C được hưởng phần di sản của cụ N9 là 29,11m² - 1,38m² của anh N - 1,38m² của chị H = 26,35m²

Như vậy, tài sản chung và di sản là thửa đất 322 các đương sự được hưởng theo quy định của pháp luật là:

  • Bà Y được hưởng 174,7m² (trong đó có 133,33m² đất ở và 41,36m² đất CLN) tài sản chung + 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN) hưởng từ ông N8 = 203,81m² (trong đó có 155,55m² đất ở và 48,25m² đất CLN).
  • Chị H được hưởng 58,23m² (trong đó có 44,44m² đất ở và 13,78m² đất CLN) tài sản chung + 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN) hưởng từ ông N8 = 87,34m² (trong đó có 66,66m² đất ở và 20,67m² đất CLN) + 1,38m² đất ở của cụ Như = 88,72m² (trong đó có 68,04m² đất ở và 20,67m² đất CLN)
  • Anh N được hưởng 58,23m² (trong đó có 44,44m² đất ở và 13,78m² đất CLN) tài sản chung + 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN) hưởng từ ông N8 = 87,34m² (trong đó có 66,66m² đất ở và 20,67m² đất CLN) + 1,38m² đất ở của cụ Như = 88,72m² (trong đó có 68,04m² đất ở và 20,67m² đất CLN)
  • Anh C được hưởng 58,23m² (trong đó có 44,44m² đất ở và 13,78m² đất CLN) tài sản chung + 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN) hưởng từ ông N8 + 29,11m² (trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN) cụ D cho + 26,35m² (trong đó có 19,46m² đất ở và 6,89m² đất CLN) của cụ N9 mà cụ D và các cô chú cho = 142,8m² (trong đó có 108,34m² đất ở và 34,45m² đất CLN). Chia cho tròn là 143m² (trong đó có 108m² đất ở và 35m² đất CLN)

[6] Về phân chia tài sản chung, di sản thừa kế:

6.1. Về phân chia thửa đất 322: Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì thấy thửa đất đang được anh C và bà Y quản lý sử dụng tách biệt thành 2 phần có công trình và tường bao ngăn cách, mỗi phần đều giáp đường đi, kích thước và diện tích đều đủ điều kiện tối thiểu tách thửa là 70m². Phần đất bà Y, chị H và anh N quản lý sử dụng diện tích 328,1m². Hiện nay anh N và chị H ở cùng với bà Y. Chị H có ý kiến là để lại cho bà Y phần tài sản chị được hưởng nên chia cho bà Y phần tài sản của chị H. Anh N lúc ở nhà lúc đi vắng và không cung cấp ý kiến của anh về việc chia tài sản, chia thừa kế nên tạm giao cho bà Y quản lý phần của anh N. Phần đất vợ chồng anh C sử dụng diện tích 196m². Bà Y và anh C đều đồng ý chia đất theo hiện trạng này. Hội đồng xét xử thấy chia thửa đất như bà Y và anh C đề nghị là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất bởi lẽ trên phần giáp ranh đều có các công trình kiên cố được xây dựng và không thể có phương án chia đất khác được. Hội đồng xét xử chấp nhận chia đất theo hiện trạng hai bên đang sử dụng là:

  • Phần 196m² anh C đang quản lý sử dụng thì chia cho anh C trong đó có gồm có 108m² đất ở x 2.850.000đồng/m² và 88m² đất CLN x 60.000đồng/m²) trị giá 313.080.000đồng, trong đó 143m² (chia cho tròn số) gồm 108m² đất ở và 35m² đất CLN là phần tài sản chung và di sản anh được hưởng và được cho, còn lại 53m² đất CLN trị giá 3.180.000 đồng được chia từ phần của bà Y nhưng anh C phải trả lại trị giá 3.180.000 đồng cho bà Y.
  • Phần 328,1m² bà Y, chị H và anh N đang quản lý sử dụng thì phần của chị H có 88,72m² (trong đó có 68,04m² đất ở và 20,67m² đất CLN) cho bà Y. Phần của anh N có 88,72m² (trong đó có 68,04m² đất ở và 20,67m² đất CLN) còn lại là của bà Y nhưng bà Y tự nguyện cho anh N thêm diện tích đất ở cho đảm bảo diện tích tối thiểu tách thửa, đảm bảo chiều rộng lô đất là 4,54m kéo dài hết đất là 19,50m, diện tích là 90,5m². Cần tạm giao cho bà Y quản lý cho anh N 90,5m² loại đất ở, sau này anh N có thể thỏa thuận với bà Y để phân chia, nếu không thỏa thuận được có thể khởi kiện vụ án khác yêu cầu phân chia. Phần còn lại chia cho bà Y (gồm cả phần đất chị H cho) là 237,6m² trong đó có 201,5m² đất ở x 2.850.000đồng và 36,1m² đất CLN x 60.000đồng = 576.441.000đồng. Bà Y được nhận trị giá phần đất của bà được hưởng nhưng chia cho anh C là 53m² đất CLN x 60.000đồng/m² = 3.180.000đồng.

6.2. Đối với tài sản gắn liền trên đất:

Anh C không yêu cầu chia các tài sản gắn liền trên đất. Chị L2 là vợ cũ của anh C, chị L1 là vợ hiện tại của anh C, chị N5 là vợ của anh N đều có thời gian chung sống trên đất nhưng chị L2, chị L1 đều thừa nhận không đóng góp được gì, không yêu cầu gì. Chị N5 có đóng góp tiền xây ngôi nhà bà Y đang ở nhưng chị không yêu cầu trích chia, cũng không ai yêu cầu chia ngôi nhà này. Bà Y chỉ yêu cầu chia ngôi nhà ở cấp 4 xây năm 1997: 40.687.920đồng trên phần đất anh C quản lý. Bà Y và anh C đều thừa nhận đây là tài sản của ông N8 và bà Y nhưng anh C đóng góp công sức sửa chữa trị giá 20.000.000đồng. Do vậy phần của bà Y và ông N8 có 20.687.920đồng, mỗi người được ½ là 10.343.960đồng. Số tiền này chia tương tự như phần [5] cho hàng thừa kế thứ nhất của ông N8 gồm cụ N9, cụ D, bà Y, anh C, chị H và anh N thì mỗi người được hưởng 1/6 là 1.723.993đồng. Anh C, chị H và anh N mỗi người được hưởng thế vị ông N8 đối với di sản cụ N9 để lại là 1.723.993đồng : 7 (cụ D, ông N8, bà H1, ông N1, bà N2, bà N3 và bà N4) = 246.284đồng : 3 = 82.000đồng. Tổng cộng anh C được hưởng phần di sản của cụ N9 là 1.723.993 đồng - 82.000đồng của anh N - 82.000đồng của chị H = 1.559.993đồng.

Tổng cộng anh C được hưởng trong 10.343.960đồng của ông N8 là 1.723.993 đồng của anh + 1.723.993đồng cụ D cho + 1.559.993đồng cụ D và cô chú cho = 5.007.979đồng. Cộng với 20.000.000đồng công sức của anh thì anh được hưởng là 25.007.979đồng.

Bà Y được hưởng là 10.343.960đồng của bà + 1.723.993 đồng hưởng của ông N8 + 1.805.993đồng (1.723.993đồng của chị H cho + 82.000đồng của chị H hưởng của cụ N9 cho) = 13.873.946đồng.

Anh N có 1.723.993đồng + 82.000đồng = 1.805.993đồng.

Anh C được sở hữu nhà cấp 4 nhưng phải trích trả bà Y trị giá ngôi nhà bà được hưởng và bà quản lý cho anh N là 13.873.946đồng + 1.805.993đồng = 15.679.939đồng (trong đó là của anh N 1.805.993đồng).

6.3. Về khoản nợ của ông N8 và chi phí mai táng:

Các đương sự được hưởng di sản thừa kế của ông N8 thì phải có nghĩa vụ trả khoản nợ và chi phí mai táng của ông N8, cụ thể:

  • Khoản nợ: Anh Công trình bày khi ông N8 chết anh đứng ra tổ chức mai táng hết 20.000.000đồng (không có hóa đơn) và anh phải trả nợ cho ông N8 ở Ngân hàng với số tiền 20.496.944đồng (có chứng từ giao dịch). Nay anh đề nghị xem xét bù trừ khi chia tài sản. Bà Y thừa nhận ông N8 vay tiền ngân hàng mục đích để buôn gỗ và sau khi ông N8 chết bà cũng phải trả nợ 61.133.056đồng. Do vậy xác định có khoản nợ 81.630.000đồng này và là nợ của ông N8 và bà Y mỗi người phải chịu 1/2 là 40.815.000đồng. Anh C được hưởng di sản của ông N8 (gồm cả phần cụ D và cụ N9 mà các cô chú cho) nên anh C có trách nhiệm chịu 3/6 nghĩa vụ trả nợ ông N8 để lại là 20.407.500đồng, tương đương với số tiền anh đã trả ngân hàng nên không bù trừ trong việc trích trả bà Y khoản này.
  • Mai táng phí: Anh C cho rằng hết 20.000.000đồng nhưng không có chứng từ chứng minh, bà Y thừa nhận chi phí thợ kèn, quan tài hết 12.000.000đồng, còn ăn uống do các hộ dân trong bản đóng góp theo tập quán. Xác minh tại địa phương xác định có việc đóng góp ăn uống theo tập quán còn chi phí quan tài, thợ kèn và một số chi phí khác hiện nay hết khoảng 16.000.000đồng. Do vậy bà Y trình bày chi phí ở thời điểm ông N8 chết là 12.000.000đồng là có căn cứ chấp nhận. Anh C có trách nhiệm chịu 3/6 khoản chi phí này là 6.000.000đồng, còn lại 6.000.000đồng bà Y phải chịu. Anh C đã chi phí nên được trừ 6.000.000đồng này vào số tiền phải trả bà Y.

Như vậy, tổng trị giá tài sản anh C phải trả cho bà Y là 3.180.000đồng (trị giá đất) + 15.679.939đồng (trị giá nhà) - 6.000.000đồng (mai táng phí a đã cho thay cho bà Y) = 12.859.939đồng. Trong 12.859.939đồng anh C trả bà Y có 1.805.993 đồng của anh N tạm giao cho bà Y quản lý.

Tổng giá trị tài sản anh C được hưởng là: (313.080.000đồng trị giá đất + 40.687.920đồng trị giá nhà) = 353.767.920đồng - 12.859.939đồng trả bà Y = 340.907.981đồng.

Tổng giá trị tài sản bà Y được hưởng là: 576.441.000đồng trị giá đất + 12.859.939đồng anh C trả = 589.300.939đồng.

[7] Về yêu cầu chia thửa đất số 306 và các thửa ruộng canh tác. Quá trình giải quyết vụ án anh C đã rút yêu cầu chia. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu chia các tài sản này.

[8]. Về chi phí định giá tài sản, chi phí đo vẽ sơ đồ hiện trạng: Tổng chi phí hết 4.445.000đồng. Bà Y và anh C mỗi người phải chịu một phần chi phí này. Bà Y phải chịu 2.225.000đồng, anh C phải chịu 2.220.000đồng theo khoản 2 Điều 157; khoản 2 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Y đã tạm ứng nay buộc anh C phải trả lại cho bà Y 2.220.000đồng.

[9]. Về án phí:

Anh C phải chịu án phí đối với trị giá tài sản được hưởng nhưng được miễn trừ án phí đối với phần trị giá tài sản cụ D là người cao tuổi cho là: 340.907.981đồng - 63.740.400đồng trị giá 29,11m² trong đó có 22,22m² đất ở và 6,89m² đất CLN suất của cụ D cho – 9.105.771đồng (trị giá 1/7 suất 29,11m² cụ Dư hưởng của cụ N9 trong di sản của ông N8) - 1.723.993đồng trị giá nhà cụ D hưởng từ ông N8 cho anh C - 246.284đồng (trị giá 1/7 suất 1.723.993đồng cụ D hưởng từ cụ N9 trong di sản của ông N8) = 266.091.533đồng x 5% = 13.304.000đồng.

Bà Y thuộc diện người cao tuổi nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà đối với trị giá tài sản bà được hưởng theo pháp luật nhưng bà phải chịu án phí đối với trị giá tài sản chị H cho bà là 88,72m² (trong đó có 68,04m² đất ở x 2.850.000đồng + 20,67 m² đất CLN x 60.000đồng) = 195.154.000đồng + 1.805.993đồng trị giá ngôi nhà chị H cho bà = 196.959.993đồng x 5% = 9.847.000đồng. Bà Y không phải chịu án phí đối với trị giá tài sản của anh N tạm giao cho bà quản lý.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3, 5 Điều 26; Điều 34; Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 157; khoản 2 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 116 Bộ luật dân sự năm 1995. Điều 108, 109, 122, 127, 128, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Khoản 2 Điều 468; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 649; điểm a khoản 1 Điều 650; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Y đối với anh Phan Văn C. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Phan Văn C đối với bà Đặng Thị Y.

  1. Tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa số 6, tờ bản đồ số 29, diện tích 520m² tại Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực ngày 07/11/2014 vô hiệu
  2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 768943 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 09/02/2015 cho hộ bà Đặng Thị Y quyền sử dụng thửa số 322, tờ bản đồ số 58, diện tích 524,1m² gồm 400m² đất ở nông thôn và 124,1m² đất CLN tại Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  3. Xác nhận tài sản chung để chia là thửa đất số 322, tờ bản đồ 58, diện tích 524,1m² trong đó có 400m² đất ở và 124,1m² đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Những người được hưởng thửa đất là bà Đặng Thị Y (1/3 thửa đất), ông Phan Văn N8 (1/3thửa đất) anh Phan Văn C (1/9 thửa đất), chị Phan Thị H (1/9 thửa đất) và anh Phan Duy N (1/9 thửa đất); Ngôi nhà ở cấp 4 xây năm 1997: 40.687.920 đồng trên phần đất anh C quản lý là tài sản chung của bà Đặng Thị Y, ông Phan Văn N8 và anh Phan Văn C. Di sản của ông Phan Văn N8 trong khối tài sản chung để chia là 174,7m² (trong đó có 133,33m² đất ở và 41,36m² đất CLN chia cho những người được hưởng thừa kế bằng nhau là cụ Nguyễn Thị D, cụ Phan Văn N9, bà Đặng Thị Y, anh Phan Văn C, chị Phan Thị H và anh Phan Duy N.
  4. Giao cho anh Phan Văn Công Q sử dụng 196m² đất, trong đó có có 108m² đất ở và 88m² đất CLN tại thửa đất số 322, tờ bản đồ 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh trị giá 313.080.000đồng. Giao cho anh Phan Văn C được sở hữu ngôi nhà ở cấp 4 xây năm 1997 trị giá 40.687.920đồng gắn liền trên phần đất giao cho anh C. Buộc anh Phan Văn C phải trả cho bà Đặng Thị Y 12.859.939đồng (mười hai triệu tám trăm năm mươi chín nghìn chín trăm ba mươi chín đồng chẵn) trong đó có 1.805.993đồng của anh Phan Duy N.
  5. Giao cho bà Đặng Thị Y quyền sử dụng 237,6m² đất trong đó có 201,5m² đất ở và 36,1m² đất CLN tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh trị giá 576.441.000đồng. Phần đất giao cho bà Y sử dụng nằm trong các điểm từ 5-6-7-8-21-20-18-14-15-5 trên sơ đồ kèm theo bản án.
  6. Tạm giao cho bà Đặng Thị Y quản lý gồm 90,5m² đất ở tại thửa đất số 322, tờ bản đồ 58, địa chỉ thửa đất: Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh và số tiền 1.805.993đồng của anh Phan Duy N đến khi anh Phan Duy N yêu cầu phân chia. Phần đất tạm giao cho bà Y quản lý cho anh N nằm trong các điểm từ 9-10-16-17-20-21-9 trên sơ đồ kèm theo bản án. (Chi tiết kích thước các cạnh thể hiện trên sơ đồ)
  7. Buộc anh Phan Văn C phải trích chia cho bà Đặng Thị Y 12.871.939đồng). Trong đó có 1.805.993đồng của anh N
  8. Đình chỉ yêu cầu của anh Phan Văn C yêu chia thửa đất số 306, tờ bản đồ số 58, diện tích 372,1m2 đất trồng cây lâu năm và yêu cầu chia 2.328m² đất nông nghiệp gồm các thửa số 146, tờ bản đồ số 10, xứ đồng Cửa Đập diện tích 840m²; thửa số 113, tờ bản đồ số 10, xứ đồng Mạc Cung, diện tích 120m²; thửa số 101 (a), tờ bản đồ số 12, xứ đồng Sau Đốm diện tích 576m²; thửa số 41 tờ bản đồ số 12 xứ đồng Cửa Hoằng diện tích 408m²; thửa số 179 tờ bản đồ số 12 xứ đồng Gốc Găng diện tích 144m²; thửa số 101 (b) tờ bản đồ số 12 xứ đồng Sau Đốm diện tích 240m² tại Bản Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
  9. Về chi phí định giá tài sản, chi phí đo vẽ thẩm định tại chỗ:
    • - Bà Đặng Thị Y phải chịu 2.225.000.đồng. Xác nhận bà Y đã nộp đủ chi phí.
    • - Anh Phan Văn C phải trả cho bà Đặng Thị Y 2.220.000đồng (hai triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng chẵn) chi phí.
  10. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền chậm trả ở thời điểm thanh toán.
  11. Về án phí:
    • - Anh Phan Văn C phải chịu 13.304.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 3.750.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004984 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh – Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3). Anh Phan Văn C phải nộp tiếp 9.554.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đặng Thị Y đối với phần tài sản bà được hưởng theo pháp luật. Bà Đặng Thị Y phải chịu 9.847.000đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chị H cho, được trừ vào số tiền 4.375.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004786 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh – Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3). Bà Đặng Thị Y còn phải nộp tiếp 5.472.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  12. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 3 - Bắc Ninh;
  • - PTHADS khu vực 3 - Bắc Ninh;
  • - Cổng TTĐT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thế Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/DS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH về tranh chấp giao dịch dân sự, tranh chấp tài sản chung, di sản thừa kế

  • Số bản án: 66/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp giao dịch dân sự, tranh chấp tài sản chung, di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Y tranh chấp tài sản chung và chia thừa kế với anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger