Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

Bản án số: 65/2025/HSST

Ngày 14 tháng 11 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Mạnh Xuân Hải

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Thị Liên và bà Lê Thị Huấn;

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – N sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXX- HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với:

  1. Bị cáo: Trần Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn D, xã B, tỉnh Ninh Bình; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trần Văn C và bà Đặng Thị T (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Từ ngày 12/8/2025 đến ngày 21/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh N; có mặt.
  2. Người làm chứng: Anh Lương Tuấn N, sinh năm 1992; vắng mặt.
  3. Người chứng kiến: Ông Lương Xuân H, sinh năm 1976; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 12/8/2025, tại phòng 303 nhà nghỉ L2 thuộc thôn H, xã N, tỉnh Ninh Bình, Tổ công tác của Công an xã N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trần Văn L cất giữ trong túi quần bò phía trước bên trái 01 túi nilon màu trắng loại túi Zip có viền màu xanh, bên trong có 04 viên nén màu đỏ, trên các viên nén có dập chữ WY. Tại chỗ, L khai nhận 04 viên nén đó là ma túy ngựa, L mới mua được đang định sử dụng tại phòng 303 nhà nghỉ Lương Tuấn N thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

1

Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Trần Văn L 04 viên nén màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT. Đồng thời thu mẫu nước tiểu của Trần Văn L niêm phong trong chai nhựa màu trắng ký hiệu NT.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn L tại thôn D N, xã B, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 512/KL-KTHS và 513/KL-KTHS cùng ngày 18/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:

“- Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,403g loại: Methamphetamine.

Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT gửi giám định."

Về nguồn gốc số ma túy Trần Văn L khai nhận: Ngày 10/8/2025, L đi làm qua phường P, tỉnh Ninh Bình có gặp một người đàn ông không quen biết, nhưng do bản thân nghiện ma túy và nhìn thấy người này giống người nghiện ma túy nên L hỏi mua ma túy loại ngựa (tức Methamphetamine) để sử dụng cho bản thân thì được người đàn ông đồng ý bán. L mua được của người đàn ông này 06 viên ma túy ngựa với giá 800.000 đồng. L luôn mang theo 06 viên ma túy trong người và chưa có dịp sử dụng. Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 12/8/2025, L đi bộ từ cây xăng đầu cầu C, thôn A C, xã B, tỉnh Ninh Bình đến bụi chuối bên phải đèn tín hiệu giao thông ở chân cầu C, thuộc thôn H, xã N, sau đó lấy ra 02 viên ma túy, để từng viên lên giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt cho viên ma túy bay hơi rồi L sử dụng bằng cách hít ma túy vào trong cơ thể. Sau khi sử dụng hết 02 viên thì thấy có gió nên L mang theo 04 viên ma túy còn lại vào nhà nghỉ L2 ở gần đó, thuê phòng để sử dụng ma túy. Khi L đang tìm chai nhựa để làm công cụ sử dụng ma túy ở trong nhà nghỉ L2 thì bị tổ công tác Công an xã N bắt quả tang về hành vi cất giữ trái phép 04 viên nén màu đỏ trong túi zip màu trắng để trong túi quần phía trước bên trái.

Cáo trạng số: 04/CT-VKS-KV6 ngày 15/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên một phần quan điểm truy tố cả về tội danh và điều khoản áp dung thể hiện tại Cáo Trạng số: 04/CT-VKS-KV6 ngày 15/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình đã được công bố, đề nghị HĐXX căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Văn L mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Rút một phần Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Văn L theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh tụng và lời nói sau cùng, bị cáo Trần Văn L chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

2

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 12/8/2025, tại nhà nghỉ L2 thuộc thôn H, xã N, tỉnh Ninh Bình, Tổ công tác của Công an xã N, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Văn L đang cất giữ trái phép 0,403 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn L gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên là người có nhân thân tốt.
  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên HĐXX cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cho cách ly bị cáo khỏi xã hội đủ để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn.

Hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã rút một phần Cáo trạng truy tố đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét thấy việc rút một phần Cáo trạng của Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tần Văn L1 là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[5] Về các tình tiết khác:

Đối với người đàn ông mà bị cáo Trần Văn L khai đã bán ma túy cho L ngày 12/8/2025 ở phường P, tỉnh Ninh Bình nhưng L không biết rõ nhân thân lai lịch người

3

này ở đâu, ngoài lời khai của L ra thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xem xét, xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đó của Trần Văn L: Do Trần Văn L là người chưa đi cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy. Vì vậy ngày 28/9/2025 Công an xã N, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt hành chính Trần Văn L bằng hình thức "Cảnh cáo" là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong có số 512/KL- KTHS và dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh N. Quá trình đấu tranh xác định đây là vật chứng hoàn lại sau giám định ma túy thuộc vật cấm lưu hành nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự.

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2025.

  • - Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt: Bị cáo Trần Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 512/KL- KTHS và dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh N. (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng thi hành án Dân sự khu vực 6 - Ninh Bình ngày 17/10/2025).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

4

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng KTNV & THAHS TA tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 6 – Ninh Bình;
  • - Phòng THA dân sự khu vực 6 – Ninh Bình;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mạnh Xuân Hải

5

6

7

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; người thân của bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

8

Từ nhận định trên xét thấy mặc dù đã nhiều lần bị kết án nhưng chưa được xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới thể hiện ý thức tu dưỡng rèn luyện không tốt vì thế cần ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế.

[5] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận tiền bồi thường nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn S đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 19.000.000đ, nay không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 miếng kim loại vàng do bà Nguyễn Thị Đ giao nộp đã trả lại cho bà Đ. Đối với: 01 xe môtô Vision BKS 17B7-378.82 và 01 chùm chìa khóa được đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị M sinh năm 1993, nguyên quán: Hoa Thám, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (hiện đã chuyển về cư trú tại thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình), quá trình điều tra chưa làm việc được với chị M nên cơ quan điều tra tách ra giải quyết sau là đúng. Đối với: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền: 1.700.000đ thu giữ của bị cáo tuy nhiên bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Xử phạt Nguyễn Văn C1 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2019.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế;
  4. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C1: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm ngàn đồng).

    (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện D và Thi hành án dân sự huyện D ngày 07/2/2020).

  5. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U bị cáo Nguyễn Văn C1 phải nộp: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân

9

sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Công an D;
  • - VKSND Duy Tiên;
  • - Chi cục T6;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc T1

10

11

12

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô không chấp hành biển cảnh báo nguy hiểm, không làm chủ tốc độ vi phạm các điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết hai người trong khi không có giấy phép lái xe theo quy định đủ yếu tố cấu

13

thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình cùng chủ xe bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; tại phiên tòa đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên xét thấy cần phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội với lỗi vô ý nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Trong vụ án này thỏa thuận công việc của Đỗ Việt Q làm phụ xe ôtô, chủ xe anh Trần Văn T2 một số lần trước đây có giao xe 35B-00556 cho bị cáo lái tuy nhiên vào ngày 27/4/2019 bị cáo tự lái xe mà không ai giao xe cho bị cáo; vào thời điểm xảy ra tai nạn mặc dù anh T2 có ở trên xe nhưng không có đủ tài liệu khẳng định anh Tám T3 hay ngủ vì vậy không đủ cơ sở vững chắc để xử lý anh T2 về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của người bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng vụ án: đã giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Đỗ Việt Q 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2019.

2/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Đỗ Việt Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo; người đại diện của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của người bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

14

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Công an huyện D;
  • - VKSND huyện Duy Tiên;
  • - THADS huyện D;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc T1

15

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Việt Q điều khiển xe ô tô đi không chấp hành biển báo, không làm chủ tốc độ xe do mình điều khiển gây hậu quả làm chết 02 người đã vi phạm Điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây thiệt hại tính mạng người khác và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (BLHS). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 05/9/2019 là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

16

17

Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Việt Q khai báo: Trong thời gian làm phụ xe cho ông T2 trên tuyến đường N - Cao Bằng, mặc dù biết rõ Q không có giấy phép lái xe nhưng có khoảng 3 – 4 lần gần đây, ông T2 mệt, buồn ngủ nên vẫn bảo Q lái xe ô tô BKS 35B 005.56 đi từ khu C thuộc thị trấn Đ, huyện D về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi về đến khu C, ông Đ1 xuống xe đi về nhà, mặc dù ông T2 không bảo Q lái xe ô tô BKS 35B – 005.56 đi về Ninh Bình nhưng sau khi xuống xắp xếp hàng hóa cho khách xong, Q lên lái xe ô tô đi về. Lúc đó, Q thấy ông T2 đang nằm ở hàng ghế hành khách đầu tiên bên trái, không rõ thức hay ngủ. Q cho rằng mặc nhiên ông T2 đồng ý để cho Q lái xe như những lần trước đó. Tuy nhiên ông T2 khai báo, ông chỉ thuê Q làm phụ xe ô tô, chỉ có một vài lần, sau khi về bến ở huyện K, tỉnh Ninh Bình, ông bảo Q lái xe đi rửa hoặc đi đổ xăng; có lần ông T2 để cho Q lái xe từ Đ về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi ông Đ1 xuống xe đi về nhà đến lúc xảy ra tai nạn, ông T2 vẫn đang ngủ và không rõ Q lên lái xe từ khi nào, ông không giao cho Q lái xe ô tô 35B – 005.56 đi về Ninh Bình. Quá trình điều tra xác minh tại thời ông Đ1 xuống xe đi về nhà đến khi Q lên điều khiển xe ô tô 35B – 005.56 và gây tai nạn giao thông, không ai nghe thấy ông T2 bảo Q lên lái xe và cũng không xác định lúc này ông Tám thức hay ngủ nên không đủ căn cứ xác định ông T2 giao xe hoặc cố ý để cho Đỗ Việt Q điều khiển xe ô tô 35B – 005.56 đi về Ninh Bình và gây tai nạn nên không đủ căn cứ để khởi tố, điều tra đối với ông Trần Văn T2.

18

19

Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 07/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên đã truy tố bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2019 và tuyên án phí đối với bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì; Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

[2] Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 tại phòng trọ của Nguyễn Văn B ở phố N, thị trấn Đ, huyện D, chị Nguyễn Thị P là nhân viên phục vụ quán hát do B quản lý, xin phép Biện không làm việc nữa để về Hà Nội học tiếng đi xuất khẩu lao động, B không đồng ý nên đã giữ và nhốt chị P ở trong phòng trọ của Biện từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi B mở cửa phòng, lợi dụng sơ hở, chị P đã chạy ra ngoài kêu cứu và được lực lượng Công an đến giải quyết.

20

[3] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn B gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền tự do thân thể bất khả xâm phạm của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội: “Giữ người trái pháp luật” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 điều 157 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên xét thấy mặc dù nhiều lần bị kết án và chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật vì vậy cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không đăt ra giải quyết.

[5] Về tài sản thu giữ: cơ quan điều tra đã xử lý nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B (tên gọi khác T) phạm tội "Giữ người trái pháp luật".

Xử phạt: Nguyễn Văn B 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/4/2019.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hà Nam;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

21

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an huyện Duy Tiên;
  • - Viện kiểm sát huyện Duy Tiên;
  • - Chi cục THA huyện Duy Tiên;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Trần Ngọc Thuận

22

23

24

25

[2] Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn T4, Nguyễn Tuấn N1, Nguyễn Khánh T5, Trần Văn H1, Đào Xuân S2 và Nguyễn Văn C1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi với mục đích sát phạt nhau được thua bằng tiền, thể hiện sự coi thường kỉ cương pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy HĐXX cần phải xử lý trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”, sát phạt nhau bằng tiền là do ham thích và hoàn toàn tự nguyện, không bị ai kích động, dụ dỗ. Trong đó các bị cáo T4, N1, T5, H1, S2 đều là người giữ vai trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành tội phạm. Riêng bị cáo C1 tuy không tham gia đánh bạc nhưng đã gọi điện rủ rê các bị cáo: T4, T5, H1 và N1 đến nhà mình để đánh bạc và chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và thu tiền hồ nên giữ vai trò chính, đồng phạm với các bị cáo khác. HĐXX sẽ xem xét về tính chất, vai trò và nhân thân từng bị cáo để đánh giá, ấn định mức hình phạt khi lượng hình.

[3] Trong lượng hình xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): các bị cáo T4, N1, T5, H1, C1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1Điều 48 BLHS. Riêng bị cáo S2 đã bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội “ Đánh bạc” theo bản án ngày 23/3/2016, bị cáo ra trại ngày 08/9/2016. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo T4, N1, T5, H1, C1 về nhân thân chưa từng bị kết án nên được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS. Riêng bị cáo Đào Xuân S2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo S2 có thời gian tham gia quân đội; bị cáo Nguyễn Văn C1 sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo S2, C1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.

Sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX thấy rằng đây là vụ án đánh bạc có nhiều người tham gia, gây dư luận xấu tại địa bàn xã C và khu vực lân cận, làm mất trật tự trị an địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo mới đáp ứng được

26

yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, như đã nhận định: các bị cáo T4, N1, T5, H1, C1 là những người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo này phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 60 BLHS cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với bị cáo S2 như đã nhận định, là người có nhân thân xấu nên HĐXX cần áp dụng Điều 33 BLHS cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, có khó khăn khác nhau nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

[5] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng thu giữ của bị cáo T4 và 01 điện thoại Nokia 105 thu giữ của bị cáo N1, quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động Samsung Note 4 thu giữ của bị cáo T5 và 01 điện thoại Nokia 1280 thu giữ của bị cáo S2, đã chứng minh làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX xét trả lại cho các bị cáo T5 và S2.
  • - Đối với số tiền 23.050.000đ trong đó có 10.550.000đ là số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 12.500.000đ trong đó 5.500.000đ thu giữ của bị cáo H1; 7.000.000đ thu giữ của bị cáo T4, quá trình điều tra không chứng minh được H1, T4 dùng số tiền trên thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét trả lại cho các bị cáo H1 và T4.
  • - Đối với các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T4, Nguyễn Tuấn N1, Nguyễn Khánh T5, Trần Văn H1, Đào Xuân S2 và Nguyễn Văn C1 phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Văn T4, Nguyễn Tuấn N1, Nguyễn Khánh T5, Trần Văn H1 và Nguyễn Văn C1.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự đối với bị cáo: Đào Xuân S2.

+ Áp dụng riêng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Xuân S2 và Nguyễn Văn C1.

* Xử phạt:

- Nguyễn Văn C1: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).

27

- Bị cáo Đào Xuân S2: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2017.

- Các bị cáo: Lê Văn T4, Trần Văn H1, Nguyễn Tuấn N1 và Nguyễn Khánh T5, mỗi bị cáo 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).

Giao các bị cáo Lê Văn T4, Trần Văn H1, Nguyễn Tuấn N1, Nguyễn Văn C1 cho UBND xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Khánh T5 cho UBND xã T, huyện D, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS:

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng; 01 điện thoại Nokia 105 và số tiền 10.550.000₫ (Mười triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh T5: 01 điện thoại di động Samsung Note4.
  • - Trả lại cho bị cáo Đào Xuân S2: 01 điện thoại Nokia 1280.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Văn H1: số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
  • - Trả lại cho bị cáo T4: số tiền 7.000.000₫ (Bẩy triệu đồng).
  • - Tịch thu cho tiêu hủy: Các vật chứng còn lại.

( Toàn bộ đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy TiêT6).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc H2. Buộc các bị cáo Lê Văn T4, Nguyễn Tuấn N1, Nguyễn Khánh T5, Trần Văn H1, Đào Xuân S2 và Nguyễn Văn C1, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an huyện Duy Tiên;
  • - VKSND huyện Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS huyện Duy Tiên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Mạnh Xuân Hải

28

29

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HSST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger