|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 61/2026/DS-PT Ngày: 16-01-2026 V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Huỳnh Thị Hồng Vân
bà Lê Thị Kim Nga
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Hữu Thái Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 16 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 700/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1034/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Hồng P, sinh năm 1971; địa chỉ: Số nhà G, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Bị đơn: ông Lê Văn T, sinh năm 1970; địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị Trúc P1, sinh năm 1972; địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà C, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Bà Châu Thị Kim Q, sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà C, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1970; địa chỉ: Số nhà C, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995; địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đ; địa chỉ: Số C, Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Bà Huỳnh Ngọc V, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã N, tỉnh Tây Ninh).
- Người kháng cáo: nguyên đơn, bà Nguyễn Hồng P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 11/11/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng P trình bày:
Bà và ông T thỏa thuận với nhau thuê đất hùn vốn T2, bà đầu tư vốn, ông T bỏ công chăm sóc, khi thu hoạch thì chia đôi bao gồm: thanh long hàng mùa và thanh long xông đèn, vụ nào chia vụ đó, sau khi trừ chi phí đầu tư, không có thỏa thuận về việc phân chia khi thua lỗ và không có thoả thuận việc chấm dứt hợp đồng, không thỏa thuận về việc ai là người quyết định thời điểm xông đèn.
Thực hiện hợp tác, bà đã trả đủ tiền thuê đất thời hạn 10 năm tại xã T, huyện C, tỉnh Long An tổng cộng 161.840.000đ, gồm: thuê của ông Nguyễn Thanh B và ông Nguyễn Thanh H diện tích là 4.530m² thửa đất số 21 tờ bản đồ số 28 và thửa đất số 478 tờ bản đồ số 22 với giá thuê là 126.840.000đ; thuê của vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Châu Thị Kim Q diện tích là 1.250m² thửa đất số 43 tờ bản đồ số 28 với giá thuê là 35.000.000đ.
Đồng thời, bà đã đưa tiền cho ông T để ông T trực tiếp mua vật tư và cây giống, phân bón... trồng thanh long, với tổng chi phí đầu tư là 95.391.000đ, cụ thể:
- Chi phí đổ trụ và đắp ụ trồng thanh long gồm: trả tiền cát, đá, sắt là 21.600.000đ; xi măng 135 bao, số tiền là 10.500.000đ; thuê chở là 7.080.000đ; tiền thuê đổ trụ trồng thanh long là 10.000.000đ; tiền thuê đắp ụ là 18.500.000đ; tiền giàn sắt xi là 2.600.000đ; dây vải, bình xịt, máy bơm nước, bóng đèn, ủng, liềm, kéo là 5.775.000đ.
- Chi phí mua giống thanh long là 7.500.000đ; tiền mua rơm và phân dừa là 11.836.000đ.
Sau khi thanh long được trồng, bà tiếp tục đầu tư mua phân, thuốc để bón cho thanh long với tổng số tiền là 130.386.000đ, cụ thể: ngày 28/8/2018, bà đưa cho ông T trả tiền phân 2.750.000đ; ngày 10/11/2018, bà trực tiếp mua phân đen 720.000đ; ngày 04/12/2018, bà đưa cho ông T trả tiền rơm, phân bò 25.000.000đ và trả tiền công 3.300.000đ; ngày 19/3/2019, bà trả tiền mua phân thuốc cho ông Quan M mà ông T mua từ ngày 29/5/2018 đến 19/3/2019 là 36.286.000đ; ngày 18/12/2018 số tiền 8.520.000đ; ngày 28/3/2019 số tiền 7.800.000đ; ngày 01/5/2019 trả tiền phân gà với số tiền 5.000.000đ; ngày 04/7/2019 trả tiền phân vi sinh 3.400.000đ; ngày 01/8/2019 trả tiền phân dưỡng rễ 1.600.000đ và bột ngọt xịt trái 30.000đ; ngày 10/10/2019 trả tiền phân để chuẩn bị xông đèn 18.500.000đ; ngày 29/10/2019 trả tiền đồng hồ nước, dây điện, ống nước 8.980.000đ; ngày 26/12/2020 Âm lịch trả tiền sắt, tiền cát đá 8.500.000đ.
Thanh long bắt đầu thu hoạch là tháng 4/2019. Hàng mùa năm 2019, 2020 và 2021 bà không nhận tiền chia, hàng mùa năm 2019 là 21.581.000đ (hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng) do bà P1 nói với bà và ông T đi bán ở kho T 02 lần, một lần được 6.590.000đ (sáu triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) và một lần được 1.796.000đ (một triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng), bà đưa tiền và hóa đơn bán hàng cho ông T. Ngoài ra, ông T, bà P1 còn bán trái vào tháng 8 năm 2019, cụ thể số tiền bao nhiêu thì bà không biết.
Thanh long xông đèn lần 1: tháng 11 năm 2019, bán trái không biết bao nhiêu tiền và bà không có nhận tiền.
Thanh long xông đèn lần 2: bán thanh long vào thời gian nào bà không biết, đến ngày 24 tháng 12 tháng 2020 Âm lịch, bà được chia với số tiền là 11.200.000đ (mười một triệu hai trăm nghìn đồng).
Thanh long xông đèn lần 3: xông tháng giêng năm 2021, bán thanh long không biết bao nhiêu tiền và bà không có nhận tiền.
Do ông T không có chia tiền cho bà nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt hợp đồng trồng thanh long giữa bà với ông Lê Văn T; tiếp tục thực hiện các hợp đồng thuê quyền sử dụng đất do bà đã ký trực tiếp đối với ông Nguyễn Văn T1, bà Châu Thị Kim Q và với ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H; giao cho bà toàn quyền quản lý, canh tác thanh long có trên các thửa đất nêu trên. Bà yêu cầu ông Lê Văn T chia tiền đã bán thanh long cho bà.
Đối với yêu cầu của ông T về việc trả tiền chăm sóc thanh long, trả nợ cho ông Q1 và bà V thì bà không đồng ý.
Theo các đơn phản tố ghi ngày 22/11/2021 và 22/12/2021, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn ông Lê Văn T trình bày:
Ông đồng ý chấm dứt hợp đồng hùn vốn trồng thanh long với bà Nguyễn Hồng P. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết chuyển giao phần hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nêu trên từ người thuê là ông và bà Phước cho người thuê là bà Phước.
Ông yêu cầu bà Phước trả tiền chăm sóc thanh long cho ông, bồi thường tiền công chăm sóc thanh long theo cách tính mỗi ngày công là 8 giờ, mỗi giờ 40.000đ, thời gian tính liên tục từ tháng 5/2018 đến ngày 20/10/2021 là 40 tháng bằng 1.200 ngày, tổng số tiền yêu cầu là 384.000.000đ. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T yêu cầu tính tiền chăm sóc thanh long theo kết quả của Tòa án thu nhập chứng cứ.
Ông Thương yêu C bà Phước phải trả cho ông Nguyễn Hồng Q1 chủ Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ tiền mua cát đá, vật tư với số tiền là 20.000.000đ, trả nợ phân thuốc trồng thanh long của bà Huỳnh Ngọc V với số tiền là 11.182.000đ.
Ngoài ra, ông và bà Võ Thị Trúc P1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Hồng P trả tiền mua dây điện với số tiền là 6.750.000đ nhưng quá trình tố tụng ông và bà P1 rút yêu cầu này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 22/12/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đ do ông Nguyễn Hồng Q1 là người đại diện trình bày: ngày cuối cùng Công ty bán cát, đá, nòng thanh long cho ông Lê Văn T là ngày 06/5/2018, ông T còn nợ là 28.590.000đ. Đến ngày 04/02/2021, bà Phước trả số tiền 8.590.000đ, còn nợ số tiền là 20.000.000đ. Công ty yêu cầu ông T và bà Phước phải trả số tiền 20.000.000đ và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 06/12/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Huỳnh Ngọc V trình bày: bà bán phân bón cho ông Lê Văn T từ ngày 27/5/2019 đến ngày 10/10/2019 thì ông T còn nợ bà số tiền 11.182.000đ. Ông T là người trực tiếp mua phân bón nên bà yêu cầu ông T trả cho bà số tiền 11.182.000đ và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày
Bà Võ Thị Trúc P1 trình bày: bà là vợ của ông Lê Văn T, bà thống nhất với lời trình bày của ông Lê Văn T và không bổ sung gì thêm.
Bà Châu Thị K trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 21/10/2025 như sau: ông Nguyễn Văn T1 là chồng của bà. Ngày 14/5/2019, vợ chồng bà có ký hợp đồng thuê đất để cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Hồng P thuê đất như trình bày của bà Phước. Bà P2 đã trả đủ tiền thuê đất cho vợ chồng bà là 35.000.000đ. Bà và ông T1 không có ý kiến gì về việc tranh chấp giữa bà Phước và ông T. Ai tiếp tục quản lý thửa đất thuê thì tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Ông Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thanh H vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng P về việc chấm dứt hợp đồng hợp tác trồng thanh long giữa bà Nguyễn Hồng P với ông Lê Văn T.
Chấm dứt hợp đồng hợp tác trồng thanh long giữa bà Nguyễn Hồng P với ông Lê Văn T, giao cho bà Phước toàn quyền quản lý, canh tác thanh long có trên thửa đất số 43, tờ bản đồ số 28 của ông Nguyễn Văn T1, bà Châu Thị Kim Q theo hợp đồng thuê đất ngày 14 tháng 5 năm 2018 và thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28, thửa đất số 478, tờ bản đồ số 22 của ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H theo hợp đồng thuê đất ngày 15 tháng 5 năm 2018 do ông Nguyễn Thanh B đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện thanh long bà Phước đang quản lý, canh tác.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn T về việc chuyển giao phần hợp đồng thuê quyền sử dụng đất từ người thuê là ông T, bà Phước cho người thuê là bà Nguyễn Hồng P.
Bà Nguyễn Hồng P là người tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng thuê thửa đất ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với thửa đất số 43, tờ bản đồ số 28 của ông Nguyễn Văn T1, bà Châu Thị Kim Q. Nếu có phát sinh tranh chấp về hợp đồng thuê đất nêu trên thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Bà Nguyễn Hồng P là người tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng thuê thửa đất ngày 15 tháng 5 năm 2018 đối với thửa đất số 21, tờ bản đồ số 28 và thửa đất số 478, tờ bản đồ số 22, bên cho thuê là ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H do ông Nguyễn Thanh B đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu có phát sinh tranh chấp về hợp đồng thuê đất nêu trên thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T về việc buộc bà Nguyễn Hồng P trả tiền công chăm sóc thanh long.
Buộc bà Nguyễn Hồng P trả cho ông Lê Văn T tiền công chăm sóc thanh long với số tiền 172.596.667đ (một trăm bảy mươi hai triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
...
- Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Lê Văn T và bà Võ Thị Trúc P1 về việc buộc bà Nguyễn Hồng P trả tiền mua dây điện với số tiền là 6.750.000đ (sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Chấp nhận yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ về việc buộc ông Lê Văn T trả tiền mua bán tài sản.
Buộc ông Lê Văn T trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
...
- Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Ngọc V về việc buộc ông Lê Văn T trả tiền mua bán tài sản.
Buộc ông Lê Văn T trả cho bà Huỳnh Ngọc V số tiền là 11.182.000đ (mười một triệu một trăm tám mươi hai nghìn đồng).
...
- Buộc bà Nguyễn Hồng P hoàn trả cho ông Lê Văn T số tiền là 31.182.000đ (ba mươi mốt triệu một trăm tám mươi hai nghìn đồng)”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2025, nguyên đơn, bà Nguyễn Hồng P kháng cáo không đồng ý trả tiền công cho ông T và trả tiền vật tư, phân bón.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bà Nguyễn Hồng P trình bày: bà và ông T hùn trồng thanh long theo phương thức: bà bỏ tiền đầu tư, ông T bỏ công chăm sóc, lời lỗ chia đôi. Khi thanh long cho trái, vợ chồng ông T đã bán nhiều đợt mà không chia tiền cho bà. Bà đã đưa đủ tiền cho ông T để trả tiền mua vật tư đổ cột trồng thanh long và tiền mua phân bón cho cây, nên bà không đồng ý yêu cầu của ông T, ông Q1, bà V.
Ông Lê Văn T trình bày: giữa ông và bà Phước có thỏa thuận hùn trồng thanh long như bà Phước trình bày. Bà Phước bỏ tiền, ông bỏ công chăm sóc thanh long, khi thu hoạch bán trái chia đôi. Thời hạn hùn trồng là 10 năm, nhưng nay bà Phước đổi ý đòi chấm dứt thì bà Phước phải thanh toán cho ông tiền công. Đối với số tiền nợ ông Q1 và bà V thì bà Phước phải trả.
Bà Võ Thị Trúc P1 trình bày: vợ chồng bà có bán trái thanh long một vài đợt, nhưng thời gian đã lâu nên không nhớ bán được bao nhiêu tiền. Trước đây khi hai bên mới mâu thuẫn, bà có đề nghị bà Phước chia diện tích trồng thanh long cho vợ chồng bà 4 phần, bà P 6 phần để mỗi bên tự làm nhưng bà Phước không đồng ý. Nay bà Phước đã khởi kiện ra Tòa án thì bà thống nhất ý kiến của ông T.
Ông Nguyễn Hồng Q1 trình bày: Công ty TNHH một thành viên Đ do mẹ của ông là người đại diện theo pháp luật. Ông yêu cầu bà Phước và ông T phải cùng trả cho Công ty số tiền nợ mua vật tư.
Ông Nguyễn Văn T1 và bà Châu Thị Kim Q thống nhất trình bày: bà Phước đã trả đủ tiền thuê đất cho ông bà, nên ông bà không có yêu cầu gì khác.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bà Nguyễn Hồng P đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: bà Phước, ông T thống nhất rằng hai bên có thỏa thuận hợp tác trồng thanh long kỳ hạn 10 năm, theo phương thức: bà Phước bỏ tiền chi phí còn ông T bỏ công chăm sóc, lãi lỗ chia đôi. Quá trình giải quyết án, hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng hợp tác trước thời hạn, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Phước về việc chấm dứt hợp đồng và giao phần đất thuê cho bà Phước tiếp tục canh tác, là phù hợp. Tuy nhiên, đối với giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng hợp tác, thì Tòa án cấp sơ thẩm lại không định giá tài sản là 910 trụ thanh long; đồng thời, không xem xét yêu cầu của bà Phước về việc chia tiền bán thanh long các đợt, yêu cầu của Công ty Đ về việc buộc bà Phước và ông T phải liên đới trả nợ tiền mua vật tư trồng trụ thanh long, là giải quyết không triệt để và toàn diện vụ án về giải quyết hậu quả của chấm dứt hợp đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Hồng P thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Hồng P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Ông Lê Văn T giữ nguyên yêu cầu phản tố. Ông Nguyễn Hồng Q1, bà Huỳnh Ngọc V giữ nguyên yêu cầu độc lập. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: bà Huỳnh Ngọc V vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; ông Lê Văn T, bà Võ Thị Trúc P1, ông Nguyễn Hồng Q1, ông Nguyễn Văn T1, bà Châu Thị Kim Q có mặt tại phiên tòa ngày 14/01/2026, vắng mặt khi tuyên án ngày 16/01/2026, nhưng đã được thông báo hợp lệ thời gian tuyên án. Ông Nguyễn Thanh B, ông Nguyễn Thanh H vắng mặt, nhưng không ảnh hưởng đến việc giải quyết kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 294, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bà Nguyễn Hồng P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về nghĩa vụ của bà khi chấm dứt hợp đồng hợp tác với ông Lê Văn T. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo và liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo.
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Hồng P không đồng ý trả cho ông Lê Văn T tiền công chăm sóc thanh long với số tiền 172.596.667đ và số tiền ông T đã chi mua vật tư và phân bón để trồng thanh long là 31.182.000đ
[4] Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, bà Phước xác định giữa bà và ông T hợp tác để trồng thanh long trong thời hạn 10 năm, theo phương thức: bà bỏ vốn, chi phí đầu tư còn ông T bỏ công; thành quả canh tác, nghĩa là số tiền bán trái thanh long sẽ được chia đôi. Thỏa thuận hợp tác giữa 02 đương sự hoàn toàn không lập thành văn bản, nhưng được bà Phước và ông T thừa nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thỏa thuận hợp tác trồng thanh long giữa bà Phước và ông T là tình tiết không phải chứng minh.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, cả bà Phước và ông T đều đồng ý chấm dứt thỏa thuận hợp tác trước thời hạn, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phước về việc chấm dứt hợp đồng hợp tác trồng thanh long giữa bà Phước với ông T, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự không kháng cáo nội dung này của bản án sơ thẩm.
[6] Tuy nhiên, khi giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng hợp tác, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giao cho bà Phước toàn quyền quản lý, canh tác, mà không tuyên cho bà Phước được quyền sở hữu các cây thanh long, là không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bà Phước. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm không đối chất làm rõ các khoản chi phí đầu tư, bao gồm chi phí ban đầu đổ trụ trồng thanh long, chi phí phân, thuốc bón cho cây, tổng các chi phí bà Phước đã trực tiếp chi trả và đưa tiền cho ông T trả, mới có căn cứ xác định chính xác số tiền Công ty Đ và bà V yêu cầu có liên quan trực tiếp đến thỏa thuận hợp tác giữa bà Phước và ông V hay không, từ đó, mới xác định được nghĩa vụ trả nợ là của ông T, bà Phước hay cả hai đương sự phải có nghĩa vụ liên đới. Bà Phước có trình bày, thanh long đã được thu hoạch nhiều đợt. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/01/2026, vợ chồng ông T và bà P1 cũng thừa nhận đã bán trái thanh long nhiều đợt, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ tổng hoa lợi mà các bên đã thu được đến trước thời điểm các bên phát sinh tranh chấp là bao nhiêu, ai là người quản lý số tiền bán thanh long; đồng thời, không xác định giá trị của số cây thanh long hiện hữu. Số tiền bán trái thanh long và giá trị của số cây thanh long hiện nay, chính là kết quả thực hiện thỏa thuận hợp tác, nên khi xem xét hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải phân chia toàn bộ số tài sản này, có tính đến yếu tố lỗi làm cho hợp đồng chấm dứt trước hạn.
[7] Ngoài ra, theo đơn khởi kiện, ông Nguyễn Hồng Q1 và bà Huỳnh Ngọc V yêu cầu bà Phước và ông T cùng liên đới trả nợ (bút lục số A, 19); đến phiên tòa ngày 15/10/2024 thì ông Q1, bà V có lúc yêu cầu cá nhân ông P1 trả nợ, có lúc lại yêu cầu bà Phước và ông T cùng có nghĩa vụ; đến phiên tòa ngày 25/9/2025 thì ông Q1 và bà V vắng mặt. Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu 02 đương sự xác định chính xác khởi kiện ai; đồng thời, ông Q1 và ông T trình bày vật liệu xây dựng là do Công ty TNHH MTV Đ bán, nhưng đơn khởi kiện lại do cá nhân ông Q1 đứng tên người khởi kiện và ký tên yêu cầu, trong khi tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/01/2026 ông Q1 xác định mẹ của ông mới là người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ. Như vậy, hình thức đơn khởi kiện của Công ty Đ là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[8] Do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, nên cần hủy bản án sơ thẩm về phần giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng để xét xử lại vụ án về phần này. Ngoài ra, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm phải xem xét xử lý đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng.
[9] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[11] Về chi phí tố tụng, tạm ứng án phí và án phí sơ thẩm: sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[12] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận, nên bà Nguyễn Hồng P không phải chịu và được hoàn trả tạm ứng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Hồng P.
- Hủy 01 phần bản án dân sự sơ thẩm số 119/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm về giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng hợp tác trồng thanh long giữa bà Nguyễn Hồng P và ông Lê Văn T.
- Phần bản án sơ thẩm về việc chấm dứt hợp đồng hợp tác trồng thanh long giữa bà Nguyễn Hồng P với ông Lê Văn T và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của ông Lê Văn T và bà Võ Thị Trúc P1 về việc buộc bà Nguyễn Hồng P trả tiền mua dây điện với số tiền là 6.750.000đ không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Hồng P không phải chịu và được hoàn trả số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007986 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
- Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngọc Hoàng Đình Thục |
Bản án số 61/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 61/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng P “Tranh chấp hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” ông Lê Văn T
