TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST Ngày 25 tháng 07 năm 2025 (V/V: Tranh chấp hôn nhân và gia đình) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 25 tháng 07 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 289/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 06 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:03/2025/QĐXX-ST ngày 03/07/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐ-HPT ngày 14 tháng 07 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hồ Anh T – sinh ngày 22/01/1998.(Có mặt)
- Trú tại: xóm K, xã G, tỉnh Nghệ An
- - Bị đơn: Anh Trần Phúc Q - sinh ngày 30/12/1990.
- Trú tại: xóm K, xã G, tỉnh Nghệ An
- (Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung:
Chị Hồ Anh T và anh Trần Phúc Q đăng ký kết hôn ngày 26/12/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã G, tỉnh Nghệ An). Trước khi tiến tới hôn nhân chị T và anh Q có quá trình tìm hiểu, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T và anh Q tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, chung sống không hòa thuận, cuộc sống thường xảy ra xung đột. Chị T và anh Q đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Hiện tại chị T xác định không còn tình cảm với anh Q nữa. Do vậy chị T đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Phúc Q để ổn định cuộc sống.
-Về quan hệ con chung: Vợ chồng có với nhau 02 con chung là Trần Phúc Hoàng P – Giới tính: Nam - sinh ngày 16/06/2017; Trần Hoàng N – Giới tính: Nữ - sinh ngày 12/11/2019. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do anh Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của con, hơn nữa con chung có nguyện vọng ở với bố, nên chị đề nghị giao con chung cho anh Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/con chung, 02 con chung là 3.000.000đ/tháng kể từ tháng 07/2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
- Về quan hệ tài sản: Chị Hồ Anh T không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Phúc Q, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, cố tình vắng mặt, tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Hồ Anh T, anh Trần Phúc Q đúng như nguyên đơn đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã G, tỉnh Nghệ An) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu chị T, anh Q có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng anh Q không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn chị Hồ Anh T có mặt, bị đơn anh Trần Phúc Q vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa trong đó đã ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Tòa án tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai cho chị T, anh Q. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn chị T có mặt, bị đơn anh Q tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Trần Phúc Q.
- Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Hồ Anh T và anh Trần Phúc Q đảm bảo đúng quy định của pháp luật, việc dẫn tới hôn nhân giữa anh chị là hoàn toàn tự nguyện. Trước khi cưới anh chị đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xã G, tỉnh Nghệ An) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 61/2016, ngày 26/12/2016, qua đó thấy hôn nhân giữa chị T và anh Q là hôn nhân hợp pháp.
Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Q đã xảy, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, sống thiếu niềm tin đối với nhau, mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng dẫn đến hôn nhân đỗ vỡ, các bên sống ly thân từ đầu năm 2020. Quá trình sống ly thân chị T, anh Q đã không liên lạc với nhau, không có ý thức níu kéo hôn nhân để đoàn tụ mà đã cắt đứt các quan hệ vợ chồng. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh Q thực sự đổ vỡ, tan rã, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Hồ Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hồ Anh T được ly hôn anh Trần Phúc Q.
[2] Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung của vợ chồng được anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, con chung phát triển tốt về mọi mặt, thể hiện người mẹ có trách nhiệm cao đối với con chung. Hơn nữa tại phiên tòa chị T trình bày trong thời gian sống ly thân con chung được anh Q chăm sóc nuôi dưỡng, chị không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của con, con chung cũng có nguyện vọng ở với bố, chị đề nghị giao con chung cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là sự tự nguyện, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi con chung của vợ chồng, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Hồ Anh T.
-Về Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Q trực tiếp nuôi con chung, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Q mỗi tháng mỗi tháng 1.500.000đ/con chung, 02 con chung là 3.000.000đ/tháng kể từ tháng 07/2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành, thể hiện người mẹ có trách nhiệm cao đối với con chung, nên cần chấp nhận việc tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung của chị T.
[3] Về quan hệ tài sản: Chị Hồ Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.
[4] Về án phí: Buộc chị Hồ Anh T phải nộp án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
- Về quan hệ tình cảm: Chị Hồ Anh T được ly hôn anh Trần Phúc Q.
- Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là Trần Phúc Hoàng P – Giới tính: Nam - sinh ngày 16/06/2017; Trần Hoàng N – Giới tính: Nữ - sinh ngày 12/11/2019 cho anh Trần Phúc Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Hồ Anh T như sau:
Chị Hồ Anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Trần Phúc Q mỗi tháng 1.500.000đ/con chung, 02 con chung là 3.000.000đ/tháng kể từ tháng 07/2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Kể từ ngày anh Trần Phúc Q làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nói trên, nếu chị Hồ Anh T không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Chị Hồ Anh T người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai cản trở, ngăn cấm.
Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1 qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc: Chị Hồ Anh T nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Án phí chị T phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 – Nghệ An) theo biên lai nộp tiền số: 0006796 ngày 19/06/2025, chị T còn phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN | THẨM PHÁN |
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Đình Thanh Nguyễn Thị Hà Nguyễn Công H | Nguyễn Công Hưng |
Nơi nhậnT/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- - TAND tỉnh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- - VKSND tỉnh
- - VKS Khu vực 6
- - Phòng THA DS Khu vực 6
- - Các đương sự
- - UBND xã Giai Lạc (ĐKKH)
- - Lưu hs, VP
Nguyễn Công Hưng
Bản án số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 25/07/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 06/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
