|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 59/2026/DS-PT
Ngày: 29/01/2026
V/v Yêu cầu tiếp tục thực hiện
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất và hủy hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất.
+
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự thụ lý số 568/2025/TLPT – DS ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc: “Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2026/QĐ-PT ngày 07/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Hẻm A P, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1935; Địa chỉ: 2 N, Tổ C, K, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị Tường V, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Thủy T4; Cùng địa chỉ: 6 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1973; Địa chỉ: 2 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Quý H1, sinh năm 1965; Địa chỉ: 2 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Võ Viết H2, ông Võ Viết H3, ông Võ Viết H4, ông Võ Viết H5; Cùng địa chỉ: 6 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Đều vắng mặt.
Ông Trần Quốc D; Cùng địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Bà Trần Thị Thu H6; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Ông Trần Minh K; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G A, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Bà Trần Thị Thu T2; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Bà Trần Thị Mỹ V1; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Ông Trần Duy T3, Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Ông Trần Quang V2; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Bà Trần Nữ Quỳnh N; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
Văn phòng C1; Địa chỉ: C N, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Khánh M; Địa chỉ: B Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Anh T1; Địa chỉ: Số F, liên gia C Buôn Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lâm Thị T, bị đơn bà Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quý H1..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị T trình bày:
Ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị H là cha mẹ đẻ của anh Trần Văn H7. Năm 1996, bà Lâm Thị T và ông Trần Văn H7 kết hôn và sống chung với cha mẹ chồng là ông D1, bà H. Sau thời gian sinh sống và lao động chung với gia đình nhà chồng, đóng góp công sức cho gia đình bên chồng. Năm 2009, vợ chồng ông H7, bà T xin cha mẹ chồng ra sinh sống riêng. Ngày 26-8-2009, ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị H đồng ý cho tặng vợ chồng ông H7, bà T 01 lô đất diện tích 300m² trong thửa đất 1.418,1m² mà ông D1, bà H đang sử dụng tại số F N, phường T, thành phố B. (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk). Việc cho tặng, ông D1 bà H có viết “giấy nhường đất cho con” có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố G, phường T. Sau khi nhận đất từ ông D1 bà H, vợ chồng ông H7, bà T xây dựng nhà kiên cố trên đất và sinh sống ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp. Do tại thời điểm này, toàn bộ thửa đất này của ông D1 bà H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa tách thửa và lập hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho được. Ngày 07/05/2010, ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị H được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 377355 đối với phần diện tích 1.418,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T, thành phố B đất có phần diện tích 300m² mà ông D1 bà H đã tặng cho vợ chồng ông H7, bà T. Ngày 13-4-2012, chồng bà T là ông Trần Văn H7 chết.
Ngày 05/09/2012, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H đã lập hợp đồng tặng cho bà Trần Thị Kim O toàn bộ diện tích 1.418,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T và được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản chứng thực số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD. Sau khi Công chứng chứng thực hợp đồng tặng cho, phía nhận tặng cho là bà Trần Thị Kim O đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 738877 ngày 07/05/2010. Bà T thấy trong diện tích đất 1.418,1m² mà ông D1 bà H tặng cho bà Trần Thị Kim O có 300m² mà ông D1 bà H đã tặng cho vợ chồng T từ năm 2009 và vợ chồng bà T đã xây dựng nhà kiên cố và sinh sống ổn định tại đây từ năm 2009. Việc ông D1 bà H tặng cho bà Trần Thị Kim O toàn bộ phần diện tích 1.418,1m² bao gồm cả phần nhà và đất của gia đình bà T là trái pháp luật.
Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp gia đình bà T, Bà T làm đơn này khởi kiện bà Trần Thị H, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H, ông D1 và ông H7, đồng thời tuyên hủy Hợp đồng công chứng số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD ngày 05/09/2018 của Văn phòng C1 theo quy định.
Tại văn bản ghi ý kiến đề ngày 01 tháng 7 năm 2021 bị đơn bà Trần Thị H trình bày:
Trước năm 2010 hai vợ chồng bà Lâm Thị T và con trai bà H dùng vũ lực ép buộc hai vợ chồng bà H ký giấy cho đất nông nghiệp với diện tích chưa tới 400m², diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc của vợ chồng bà H khai phá. Việc bà Lâm Thị T và con trai bà H Trần Văn H7 ép buộc viết giấy cho đất là ép buộc có sự chứng kiến của khối trưởng ông Phí Công Đ là người ký vào giấy tặng cho, trong quá trình bị ép ký giấy cho đất thì ông Trần Văn H7 phun thẳng nước miếng vào mặt bà H và chồng bà H. Về ý chí nguyện vọng của việc cho đất của hai vợ chồng bà H là bị bà Lâm Thị T và con trai bà H Trần Văn H7 ép buộc và đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 07/5/2010 hai vợ chồng bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 377355, số vào sổ cấp GCN số: CH-05215 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/5/2010 thông tin cụ thể về bất động sản như sau: Thửa đất số: 33, Tờ bản đồ số: 36, Địa chỉ thửa đất: Phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk, Diện tích: 1.418,1m². Sau đó vợ chồng bà H không tách thửa, và hai vợ chồng bà H cũng không tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho con dâu bà Lâm Thị T và con trai Trần Văn H7 nữa. Vì đất đai là tài sản của vợ chồng bà H nên có quyền định đoạt, tặng cho bất cứ người con nào trong gia đình và cho đến ngày 05/9/2012 hai vợ chồng bà H đã tự nguyện đi đến Văn phòng C1 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con gái Trần Thị Kim O, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 377355do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/5/2010; thửa đất số: 33; tờ bản đồ số: 36, diện tích 1.418,1m², đất tọa lạc tại Phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Trong quá trình khởi kiện trước của bà Lâm Thị T, thì bà H có biết việc khởi kiện, Tuy nhiên trong quá trình giải quyết và thỏa thuận thì bà H không có tham gia, chứng kiến nên không phải ý chí của bà H và việc rút đơn của bà Lâm Thị T, như thế nào bà H không rõ. Vì vậy việc khởi kiện của bà Lâm Thị T, thì bà H không đồng ý.
Đề nghị Tòa án xem xét Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Lâm Thị T về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị H tiếp tục thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 của Văn phòng C1.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Người đại diện theo ủy quyền của có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim O có đơn yêu cầu độc lập là ông Đỗ Anh T1 trình bày:
Bà Lâm Thị T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết “Yêu tiếp tục thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 của Văn phòng C1” là không đúng với quy định của pháp luật và đã xâm phạm đến quyền tài sản là quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Kim O được pháp luật bảo vệ và được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và Điều 188 Luật đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 và Mục 1 Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự, tố tụng hành chính quy định. Vì, vào ngày 05/9/2012 bà Trần Thị Kim O được cha mẹ ruột là ông Trần Văn D1 và mẹ là bà Trần Thị H đã tự nguyện đi đến Văn Công chứng Đ ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 377355, do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/05/2010; thửa đất số: 33; tờ bản đồ số: 36, diện tích 1.418,1m², đất tọa lạc tại Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Xem xét theo quy định của pháp luật khi bà Trần Thị Kim O được cha mẹ ruột tự nguyện ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/9/2012 của Công chứng viên Văn phòng C1 công chứng số: 5246, quyển 09/CC-SCC/HĐGD là đúng với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và nay là Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật đất đai năm 2003 và nay là Luật đất đai năm 2013 và Luật công chứng năm 2006 và nay là Luật công chứng năm 2014. Sau khi được tặng cho bà Trần Thị Kim O đã liên hệ cơ quan có thẩm quyền để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 575405 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 27/03/2013 và bà O đã thế chấp quyền sử dụng đất cho ngân hàng từ ngày 08/01/2013. Đến ngày 25/10/2019 xóa thế chấp và cho đến ngày 28/10/2019 thế chấp quyền sử dụng đất tại Quỹ tín dụng nhân dân T. Đến ngày 26/3/2020 xóa thế chấp và tiếp ngày 27/03/2020 thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh L cho đến nay tài sản trên vẫn được thế chấp tại ngân hàng để lấy tiền làm kinh tế gia đình. Như vậy, xét theo quy định của pháp luật thì việc làm đơn khởi kiện của bà Lâm Thị T yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị H “Tiếp tục thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 của Văn phòng C1” là không đúng với quy định của pháp luật
Đề nghị Tòa án tuyên xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T và công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất Thửa đất số: 33, Tờ bản đồ số: 36, Địa chỉ thửa đất: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Diện tích: 1.418,1m²
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Tường V, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Thị Thủy T4 trình bày:
Ông Trần Văn H7 và bà Lâm Thị T là bố mẹ ruột của bà Trần Thị Tường V, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Thị Thủy T4. Năm 2009, ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị H cho ông H7, bà T 01 lô đất diện tích 300m² trong thửa đất 1.400m² mà ông D1, bà H đang sử dụng tại số F N, phường T, thành phố B. Việc cho tặng, ông D1 bà H có viết “giấy nhường đất cho con” có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố G, phường T. Sau khi nhận đất từ ông D1 bà H thì ông H7 bà T xây dựng nhà kiên cố trên đất và sinh sống ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp. Do tại thời điểm này, toàn bộ thửa đất này của ông D1 bà H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa tách thửa và lập hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho được. Ngày 07/05/2010, ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị H được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận đất số BA 377355 với diện tích 1.418,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Phần diện tích 1.418,1m² ông D1 bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phần diện tích 300m² mà ông D1 bà H đã tặng cho ông H7, bà T. Ngày 13-4-2012, ông Trần Văn H7 qua đời. Ngày 05/09/2012, ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H đã lập hợp đồng tặng cho bà Trần Thị Kim O toàn bộ diện tích 1.418,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T và được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản chứng thực số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD. Sau khi Công chứng chứng thực hợp đồng tặng cho, phía nhận tặng cho là bà Trần Thị Kim O đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 738877 ngày 07/05/2010.
Nay bà Lâm Thị T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà T, ông H7 và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho công chứng số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2018 của văn phòng C1 thì các bà Trần Thị Tường V, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Thị Thủy T4 đều đồng ý với yêu cầu của bà T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quý H1 trình bày tại bản tự khai:
Vào ngày 05/9/2012 vợ ông H1 là Trần Thị Kim O, được cha mẹ ruột là ông Trần Văn D1 và mẹ là bà Trần Thị H đã tự nguyện đi đến Văn phòng C1 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 377355 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 07/5/2010; thửa đất số 33; tờ bản đồ số 36; diện tích 1.418,1m² đất tọa lạc tại Phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Sau khi được ba mẹ tặng cho bà O đã được cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BA 575405 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 27/03/2013 và vợ chồng ông H1, bà O đã thế chấp quyền sử dụng đất cho ngân hàng từ ngày 08/01/2013 sau đó ngày 25/10/2019 xóa thế chấp và cho đến ngày 28/10/1019 thế chấp quyền sử dụng đất tại Quỹ tín dụng nhân dân T và đến ngày 26/3/2020 xóa thế chấp và tiếp ngày 27/03/2020 thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh L cho đến nay tài sản trên được thế chấp tại ngân hàng để lấy tiền làm kinh tế gia đình. Như vậy, xét theo quy định của pháp luật thì việc làm đơn khởi kiện của bà Lâm Thị T yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị H tiếp tục thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 của Văn phòng C1 là không đúng với quy định của điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xem xét Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Lâm Thị T yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị H về việc Yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 của Văn phòng C1.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1, các ông Võ Viết H2, Võ Viết H3, Võ Viết H4, Võ Viết H5, bà Trần Thị Thu H6, ông Trần Quốc D, bà Trần Thị Mỹ V1, ông Trần Minh K, bà Trần Thị Thu T2, ông Trần Duy T3, ông Trần Quang V2, bà Trần Nữ Quỳnh N không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 121, Điều 122, Điều 127, Điều 163, Điều 164, Điều 166; Điều 195; Điều 197, Điều 465 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 106 Luật đất đai năm 2003. Điểm đ khoản 1 Điều 12, điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T.
Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và ông Trần Văn H7 ký ngày 26-8-2009.
Giao cho bà Lâm Thị T được quyền quản lý và sử dụng diện tích đất 337,9 m² nằm một phần trong thửa số 102, tờ bản đồ số 36, diện tích 986,9m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) mang tên bà Trần Thị Kim O có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường giao thông; Phía Nam giáp thửa 65; Phía Đông giáp thửa 102,103,104; Phía Tây giáp thửa 148. (theo trích đo địa chính thửa đất của Công ty TNHH Đ1 ngày 08/09/2022) và các tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 83,2m², 01 nhà để xe có diện tích 19,32m², tường rào xây gạch 22m, giếng đào sâu 30m, sân láng xi măng diện tích 50,4m², mái che tạm diện tích 23,92m² và 01 cây hồ tiêu. Tổng trị giá 2.080.388.000 đồng.
Tài sản trên là di sản thừa kế của ông Trần Văn H7, trường hợp các đương sự có tranh chấp về thừa kế được quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản chứng thực số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H tặng cho bà Trần Thị Kim O, diện tích đất 1.418,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) vô hiệu một phần đối với diện tích 337,9 m² mà bà T đang quản lý.
Bác một phần đơn kiện phản tố của bà Trần Thị Kim O về yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất 05/09/2012 được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản chứng thực số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và bà Trần Thị Kim O đối với diện tích đất 337,9 m². Công nhận diện tích đất 649m² nằm trong thửa số 102, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Trần Thị Kim O.
Bà Lâm Thị T được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 337,9 m² theo quy định của pháp luật và phải chịu các khoản phí, lệ phí khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý lại diện tích thửa đất số 102, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật cho bà Trần Thị Kim O.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
- Ngày 13/10/2025, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo hướng: Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và bà Trần Thị Kim O. Đồng thời hủy giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị Kim O theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên.
- Ngày 20/10/2025, bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quý H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lâm Thị T, bị đơn bà Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quý H1; Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm đối với phần tuyên. Bởi lẽ quyền sử dụng đất 337,9m² nêu trên và các tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của ông Trần Văn H7 và bà Lâm Thị T, chứ không phải là tài sản của một mình ông H7, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tài sản trên là di sản thừa kế của ông Trần Văn H7 là có phần chưa chính xác. Ngoài ra, việc bà T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này là đại diện cho các đồng thừa kế của ông H7 vì trong đó có phần di sản thừa kế của ông H7 chưa chia, chứ không phải cá nhân bà T như bản án sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lâm Thị T, bị đơn bà Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quý H1 có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định. Riêng bà H, ông H1 là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí, là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.418,1m² tại phường T, thành phố B, có nguồn gốc do vợ chồng ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H khai hoang, sử dụng ổn định và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 07/5/2010, trong đó có 300m² đất ở đô thị. Ngày 26/8/2009, ông D1 và bà H ký giấy tặng cho con 300m² đất thuộc thửa đất số 33 để ông H1 làm nhà ở (diện tích đo đạc thực địa 337,9m²; nay thuộc thửa đất số 102, tờ bản đồ số 36). Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Tổ dân phố G, phường T xác nhận. Tại thời điểm tặng cho, thửa đất số 33 chưa có cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên diện tích 300m² đất tặng cho chưa được tách thửa. Tuy nhiên, sau khi được tặng cho diện tích đất nêu trên, vợ chồng ông H1, bà T đã xây dựng nhà ở, các công trình kiến trúc khác trên đất từ năm 2009 và sử dụng ổn định đến nay. Như vậy, ông D1 và bà H đã thực hiện việc chuyển quyền 300m² đất nêu trên cho vợ chồng ông H1 xây dựng nhà ở. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và ông Trần Văn H7 ký ngày 26/8/2009 là có căn cứ.
[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn đề nghị hủy toàn bộ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/9/2012. Pháp luật dân sự chỉ cho phép bên tham gia giao dịch mới có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/9/2012 được xác lập giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và bà Trần Thị Kim O; bà Lâm Thị T không phải là chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, nên bà T không có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng. Trong vụ án này, quyền và lợi ích hợp pháp của bà T đã được Tòa án cấp sơ thẩm bảo đảm thông qua việc tuyên hợp đồng vô hiệu một phần đối với diện tích 337,9 m². Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà T đề nghị hủy toàn bộ hợp đồng tặng cho ngày 05/9/2012 là không có căn cứ pháp luật, không được chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị Kim O. Tại cấp sơ thẩm, bà T không có yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu bổ sung về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà O. Theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Hơn nữa, bản án sơ thẩm đã có nội dung kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo kết quả giải quyết vụ án. Trường hợp bà T cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của nguyên đơn bà T.
[2.4] Đối với kháng cáo liên quan đến thời hiệu khởi kiện. Bị đơn cho rằng nguyên đơn đã hết thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Bị đơn đã không có yêu cầu áp dụng thời hiệu trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm. Việc yêu cầu tại giai đoạn phúc thẩm là không đúng quy định pháp luật, không có căn cứ chấp nhận.
[2.5] Đối với nội dung người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H7, bà O kháng cáo yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/9/2012 của Công chứng viên Văn phòng C1. Theo phân tích tại mục [2.1], công nhận hợp đồng tặng cho đất giữa Trần Văn D1, bà Nguyễn Thị H8 và ông Trần Văn H7 là có căn cứ. Nên việc ông D1 và bà H8 lại tặng cho thửa đất cho bà O (thửa 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) có cả phần diện tích đất đã cho vợ chồng ông H7 là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H7 và bà T. Tòa cấp sơ thẩm bác một phần yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Kim O đối với diện tích đất 337,9m², công nhận diện tích đất 649m² trong thửa số 102, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) cho bà O là có căn cứ, việc kháng cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[2.6] Đối với nội dung bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo cho rằng nguyên đơn vắng mặt không có lý do chính đáng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Qua xem xét hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà T vẫn có mặt để Tòa án tiến hành lấy lời khai vào ngày 27/12/2024 theo Giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1); bà T vẫn có mặt tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 28/8/2025. Việc Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiếp tục giải quyết đối với yêu cầu của bà T là có căn cứ.
[2.7] Tuy nhiên, việc cho tặng quyền sử dụng đất 337,9m² và các tài sản trên đất đều được xác lập, tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông H7 và bà T, không có căn cứ xác định là tài sản tặng cho riêng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên toàn bộ tài sản trên thuộc di sản thừa kế của ông Trần Văn H7 là chưa chính xác. Về việc đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 337,9m², Tòa án cấp sơ thẩm tuyên: “Bà Lâm Thị T được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 337,9m²” là chưa đầy đủ về mặt quyền chủ thể. Như đã phân tích, diện tích đất và các tài sản trên đất có phần là di sản thừa kế của ông H7 hiện chưa được phân chia. Theo Điều 616 Bộ luật Dân sự năm 2015, bà T là người đang trực tiếp quản lý tài sản và có quyền đại diện quản lý di sản chưa chia. Bà T có thể đại diện liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đăng ký này là đại diện cho các đồng thừa kế của ông Hoàng liên H9 cơ quan có thẩm quyền để đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bảo đảm phù hợp quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không rõ vấn đề này, dễ phát sinh tranh chấp cho các đương sự về sau.
[3] Từ những phân tích, nhận định trên, xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lâm Thị T, bị đơn bà Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim O và ông Nguyễn Quý H1. Tuy nhiên cần thiết phải sửa lại phần tuyên của bản án sơ thẩm để tránh phát sinh tranh chấp sau này.
[4] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ đó,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 172/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Áp dụng các Điều 227, Điều 293, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 121, Điều 122, Điều 127, Điều 163, Điều 164, Điều 195; Điều 197, Điều 465 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị T. Công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và ông Trần Văn H7 ký ngày 26-8-2009.
Giao cho bà Lâm Thị T được quyền quản lý và sử dụng diện tích đất 337,9m² nằm một phần trong thửa số 102, tờ bản đồ số 36, diện tích 986,9m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) mang tên bà Trần Thị Kim O có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường giao thông; Phía Nam giáp thửa 65; Phía Đông giáp thửa 102,103,104; Phía Tây giáp thửa 148 (theo trích đo địa chính thửa đất của Công ty TNHH Đ1 ngày 08/09/2022) và các tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 83,2m², 01 nhà để xe có diện tích 19,32m², tường rào xây gạch 22m, giếng đào sâu 30m, sân láng xi măng diện tích 50,4m², mái che tạm diện tích 23,92m² và 01 cây hồ tiêu. Tổng trị giá 2.080.388.000 đồng.
Quyền sử dụng đất 337,9m² nêu trên và các tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của ông Trần Văn H7 và bà Lâm Thị T (phần di sản thừa kế của ông H7 chưa chia), trường hợp các đương sự có tranh chấp về thừa kế được quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 05/09/2012 được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản chứng thực số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H tặng cho bà Trần Thị Kim O, diện tích đất 1.418,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 36 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) vô hiệu một phần đối với diện tích 337,9 m² mà bà T đang quản lý.
Bác một phần đơn yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Kim O về yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất 05/09/2012 được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản chứng thực số 5246, quyển số 09/CC-SCC/HĐGD giữa ông Trần Văn D1, bà Trần Thị H và bà Trần Thị Kim O đối với diện tích đất 337,9m². Công nhận diện tích đất 649m² nằm trong thửa số 102, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Trần Thị Kim O.
Bà Lâm Thị T được đại diện cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn Hoàng liên H9 với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 337,9 m² theo quy định của pháp luật và phải chịu các khoản phí, lệ phí khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Phần tài sản của ông H7 chưa chia).
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý lại diện tích thửa đất số 102, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật cho bà Trần Thị Kim O.
Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Bà Trần Thị H phải chịu 5.931.000 đồng tiền thẩm định và định giá tài sản. Hoàn trả cho bà Lâm Thị T số tiền 5.931.000 đồng tiền tạm ứng chi phí thẩm định và định giá tài sản sau khi thu tiền của bà Trần Thị H. Bà Trần Thị Kim O phải chịu 9.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định và thẩm định giá tài sản, được khấu trừ số tiền đã nộp tại Toà án.
Về án phí:
Hoàn trả cho bà Lâm Thị T số tiền 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 60AA/2021/0004259 ngày 18/6/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đắk Lắk) và số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003051 ngày 22/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bà Trần Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0010108 ngày 20/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đắk Lắk); Hoàn trả cho bà Trần Thị Kim O số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003116 ngày 23/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bà Trần Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm; Ông Nguyễn Quý H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 59/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 59/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T - H
