Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HSST

Ngày 28 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quang Minh.

Ông Nguyễn Công Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu - là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Phương A, sinh năm 2007 tại Cà Mau; tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Ấp G, xã T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoàng T và bà Nguyễn Thị N; vợ và con chưa có; tiền sự: 01 (Ngày 10/4/2025 bị Công an xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý), tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2025 cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Anh là đối tượng cai nghiện ma tuý tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau, ngày 12/6/2025 bị cáo Anh tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện tại biên bản về việc thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyện giữa bị cáo A với Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau. Ngày 04/8/2025 ông Đào Văn C nghi vấn bị cáo A có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nên trình báo Công an xã T, tỉnh Cà Mau và tiến hành test nhanh kết quả bị cáo Anh dương tính với chất ma tuý. Quá trình điều tra bị cáo A thừa nhận vào ngày 03/8/2025 có sử dụng trái phép chất ma tuý tại ấp R, xã T, tỉnh Cà Mau, loại ma tuý đá, hình thức hút.

Vật chứng thu giữ: 01 hủ vô trùng đựng nước tiểu của bị cáo A, qua giám định đã hết không còn.

Tại kết luận giám định chất độc số: 1522/2155/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 12/8/2025 của P tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Có tìm thấy A1, Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Phạm Phương A (Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247 và A2 là chất ma tuý nằm trong danh mục IIB, STT 05 Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Từ những nội dung trên bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Phạm Phương A về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội theo như bản cáo trạng truy tố nêu trên, ma tuý bị cáo sử dụng được kết luận thuộc loại Methamphetamine và A1, bị cáo thống nhất không có ý kiến.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi phạm tội của bị cáo A đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Phương A và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS xử phạt đối với bị cáo Phạm Phương A mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận bị cáo là đối tượng cai nghiện ma tuý tự nguyện tại Cơ sở C1 tỉnh Cà Mau và tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện vào ngày 12/6/2025 tại biên bản về việc thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyện (Bút lục số 53), vào ngày 03/8/2025 có sử dụng trái phép chất ma tuý tại ấp R, xã T, tỉnh Cà Mau, loại ma tuý đá, hình thức hút, ngày 04/8/2025 Công an xã T, tỉnh Cà Mau và tiến hành test nhanh kết quả Phạm Phương A dương tính với chất ma tuý (Bút lục số: 41). Lời khai của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Tại kết luận giám định chất độc số: 1522/2155/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 12/8/2025 của Phân viện Pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh (Bút lục số: 62), kết luận: Có tìm thấy A1, Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Phạm Phương A (Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247 và A2 là chất ma tuý nằm trong danh mục IIB, STT 05 Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ). Bị cáo thống nhất và không có ý kiến đối với kết luận giám định.

Việc phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Trước, trong và sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Từ những phân tích, lập luận, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Phương A đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a BLHS.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo biết và nhận thức được chất ma túy là chất cấm và chịu sự quản lý độc quyền của Nhà nước, hậu quả của việc sau khi sử dụng trái phép chất ma túy là vô cùng nguy hiểm cho xã hội và sức khỏe của chính bản thân bị cáo, đồng thời việc sử dụng trái phép chất ma tuý là mầm móng cho các loại tội phạm khác có thể xảy ra.

Bản thân bị cáo đã từng nghiện ma tuý và đã có thời gian tự nguyện cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau, đáng lẽ ra bị cáo phải nhận thức và ý thức được hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo lại cố ý thức xem thường pháp luật và muốn thoả mãn thú vui cho bản thân, nên bị cáo đã sẵn sàng mua và sử dụng trái phép chất ma tuý đang trong thời gian 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện. Hành vi phạm tội của bị cáo rất đáng để lên án điển hình trong công tác đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm về ma túy hiện nay. Tình hình tội phạm về ma túy hiện nay ngày càng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp trong cả nước nói chung và trên địa bàn xã T, tỉnh Cà Mau nói riêng; để đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống có hiệu quả đối với các loại tội phạm về ma túy, nên cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm mục đích răn đe, giáo dục, cảnh tỉnh chung cho toàn xã hội.

Khi xem xét mức hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do bị cáo đã từng nghiện ma tuý, nhưng không có chí hướng sửa đổi mà lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, dẫn đến bị truy tố, trong quá trình điều tra xử lý hành vi của bị cáo thì ngày 24/8/2025 bị cáo lại tiếp tục tìm mua ma tuý và sử dụng tiếp, nên không xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau đối với bị cáo A về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 1 Điều 256a BLHS và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo A mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo và sửa đổi bản thân để trở thành một người công dân tốt cho gia đình và xã hội khi tái hòa nhập lại với cộng đồng sau này.

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số: 326).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phương A phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Phương A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 22/9/2025.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326.

Buộc bị cáo Phạm Phương A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND khu vực 3 – Cà Mau;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 3 – Cà Mau;
  • - Phân trại TG khu vực Trần Văn Thời;
  • - UBND xã Trần Văn Thời;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Huỳnh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HSST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về hình sự (sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 57/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù 02 năm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger