Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 56A/2026/DS-PT

Ngày: 28 - 01 - 2026

V/v: Yêu cầu chia tài sản chung và
tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Duy Thuấn
                          2. Bà Đặng Thị Thu Hằng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về việc “Yêu cầu chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng tín dụng". Do bản án dân sự sơ thẩm số 105/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 466/2025/QĐ-PT ngày 05/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 419/2025/QĐ-PT ngày 31/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • Bà Phạm Thị V, sinh năm 1974; Địa chỉ: 2 H, tổ A, khối A, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1978; Địa chỉ: Hẻm C H, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Vắng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
    • Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Công M – Chủ tịch hội đồng quản trị, Ngân hàng TMCP S.
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Như T – Giám đốc Chi nhánh L1, Ngân hàng TMCP S.
    • Người được ủy quyền lại: Ông Vũ Công N - Trưởng phòng kiểm soát rủi ro Chi nhánh L1, Ngân hàng TMCP S - Vắng mặt.
  2. Bị đơn:
    • Bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1980; Địa chỉ: K, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Trần Minh T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn D, xã D, tỉnh Đắk Lắk – Vắng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
    • Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1989 và ông Hồ Phúc Q, sinh năm 1979. Cùng nơi cư trú: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Trần Văn C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ D, đường H, phường T, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986 và ông Trương Tiến D, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: A Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Đều Vắng mặt.
    • Ông Hồ Phúc Q; Địa chỉ: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
    • Ông Vũ Văn N2, sinh năm 1981 và bà Đặng Thị C1; cùng địa chỉ: C N, phường B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng.
    • Văn phòng C2. Địa chỉ: D L, phường B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
    • Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1; Địa chỉ: A L, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn bà Phạm Thị V và đại diện theo ủy quyền của bà V là ông Nguyễn Quốc B trình bày:

Giữa bà Phạm Thị V, Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn Thị Thu H là bạn làm ăn với nhau từ rất lâu năm. Vào ngày 15/7/2019 bà Phạm Thị V có nhận chuyển nhượng phần góp chung của vợ chồng ông Vũ Văn N2, bà Đặng Thị C1 với bà Nguyễn Thị N1, ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị Phương L theo Văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 gồm các thửa đất số 109, 171, 172 tại tờ bản đồ 89, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bà V cho rằng sau khi hoàn tất các thủ tục sang tên, bà H đã tự ý đem các thửa đất này thế chấp tại Ngân hàng S1 chi nhánh L1 để vay vốn mà không thông báo cho bà V. Đồng thời, bà V cho rằng bà L và bà H đã cấu kết tạo ra các khoản nợ ảo nhằm tẩu tán tài sản. Do đó, bà V khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung là 03 thửa đất nêu trên.

2. Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu H là ông Trần Văn C trình bày:

Bà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V. Bà H cho rằng đây là tài sản riêng của vợ chồng bà H và ông Hồ Phúc Q, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ vợ chồng bà N1 và ông D. Văn bản thỏa thuận 3 bên mà bà V cung cấp thực tế không được thực hiện và các bên đã hủy ngang.

3. Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Phương L là ông Trần Minh T1 trình bày:

Bà L có ý kiến rằng các thửa đất trên đều đứng tên bà H, bà L không quản lý, sử dụng và không có quyền lợi đối với các thửa đất này. Bà L cũng cho rằng việc bà V khởi kiện bà L với vai trò bị đơn là không đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ xác định quyền sở hữu chung đối với các thửa đất số 109, 171, 172 tờ bản đồ 89 giữa bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị Thu H và bà Nguyễn Thị Phương L dựa trên các văn bản thỏa thuận và chứng cứ chuyển tiền. Việc bà H tự ý thế chấp tài sản chung để vay vốn ngân hàng mà không có sự đồng ý của các đồng sở hữu là vi phạm quyền lợi của bà V và bà L.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Tuyên xử:

  • Chấp nhận đơn yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của bà Phạm Thị V. Xác định các thửa đất số 109, 171, 172 tờ bản đồ 89 là tài sản chung của bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn Thị Thu H.
  • Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải thanh toán lại cho bà Phạm Thị V số tiền chia tài sản chung là 1.940.767.000 đồng.
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S. Buộc vợ chồng ông Hồ Phúc Q và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi là 10.589.112.232 đồng.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1 - Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa



(Đã ký)

Nguyễn Thị My My
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56A/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 56A/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trước đây bà V khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung và được nhận bằng đất nhưng tại phiên tòa hôm nay bà V xin thay đổi ý kiến là nhận bằng giá trị như sau: Tổng giá trị tranh chấp đối với thửa đất số 109 + thửa đất số 171 + thửa đất số 172 + tài sản gắn liền với đất = 5.822.300.162 đồng : 3 = 1.940.766.000 đồng Vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị Phương L với bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho bà V số tiền 1.940.766.000đồng. Về hợp đồng tín dụng thi bà V không có ý kiến gì.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger