|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/KDTM-ST
Ngày: 13-6-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Vân Anh
- Ông Đặng Tấn Đức
– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2025/TLST-KDTM ngày 14 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 811/2025/QĐXXST-KDTM ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH G; Trụ sở: 46 đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật là: Ông Phan Nguyễn Trung T, sinh năm 1981 (Giám đốc); Người đại diện theo ủy quyền là: Bà Nguyễn Thị Hương T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: B Chung cư G T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 08/01/2025).
- Bị đơn: Công ty TNHH T2; Trụ sở: 3 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo uỷ quyền là: Bà Lộc Hoàng O, sinh năm 1994; Địa chỉ: 7 N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền số 01/2025/UQ-TP ngày 13/3/2025).
(Tại phiên tòa: Ông T: Có mặt; Bà T1: Vắng mặt; bà O: Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 19/3/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty TNHH G do bà Nguyễn Thị Hương T1 làm người đại diện theo ủy trình bày:
Đầu năm 2021, Công ty TNHH T2 (viết tắt là Công ty T2) đã gửi yêu cầu tới Công ty TNHH G (viết tắt là Công ty G) để vận chuyển 1 lô hàng cont 20DC (626 BOXES/7, 300 kg) từ cảng A (Thành phố I) tới cảng C (Thành phố H).
- Lô hàng shipped on board ngày 17/02/2021 với số B/L: VOLEP21020154, cập cảng C (HCM) ngày 28/03/2021.
- Công ty G hoàn tất thủ tục hải quan thông quan cho 10 hàng, giao hàng cho Công ty T2 ngày 30/03/2021.
- Ngày 31/03/2021 Công ty G gửi hoá đơn số 0001027 (Nội dung: PHỤ PHÍ MÙA CAO ĐIỂM & CƯỚC VẬN CHUYỂN QUỐC TẾ, B/L#: VOLEP21020154) với số tiền là: 46.909.125 đồng & hoá đơn số 0001028 (Nội dung: PHÍ VỆ SINH & PHÍ DỊCH VỤ KHAI QUAN & PHÍ CHỨNG TỪ & PHÍ XẾP DỠ & PHÍ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA, B/L#: VOLEP21020154) với số tiền là: 8.690.227 đồng. Tổng số tiền của 2 hoá đơn nêu trên có giá trị là: 55.599.352 đồng.
Theo Hợp đồng nguyên tắc số 120/18/HĐKT/TIL-TP, Công ty T2 có nghĩa vụ thanh toán tất cả các khoản phí dịch vụ và chi hộ trong vòng 30 ngày từ ngày phát hành hóa đơn giá trị gia tăng và Công ty T2 nhận được đầy đủ chứng từ (hạn thanh toán là ngày 01/05/2021). Sau rất nhiều lần nhắc nợ qua email, điện thoại, ngày 26/01/2022 Công ty T2 thanh toán cho Công ty G số tiền là 16.479.352 đồng bao gồm tiền chi hộ 880.000 đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty G khởi kiện. Tạm tính đến ngày 23/5/2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền là 79.546.667 đồng, trong đó số tiền công nợ còn chưa thanh toán là 40.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 39.546.667 đồng (lãi suất 2%/tháng theo quy định tại Hợp đồng). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH T2 do bà Lộc Hoàng O làm người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Công ty TNHH T2 xác nhận có ký kết với Công ty TNHH G Hợp đồng nguyên tắc số 120/18/HĐKT/TIL-TP ngày 16/11/2018 và xác nhận Công ty TNHH G đã thực hiện xong công việc được giao như nguyên đơn trình bày.
Do năm 2021, kinh tế khó khăn sau đại dịch C – 19, hoạt động kinh doanh của Công ty T2 bị chậm, việc thu hồi công nợ bị ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của Công ty T2. Vì vậy, Công ty T2 đã xin tạm ngưng hoạt động đến tháng 10/2024 nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên chậm thanh toán công nợ cho nguyên đơn. Nay Công ty G khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn trả ngay lập tức số tiền công nợ còn lại là 40.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 18/12/2024 là 35.836.667 đồng. Tổng cộng số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 18/12/2024 là 75.836.677 đồng thì Công ty T2 đồng ý thanh toán dư nợ theo yêu cầu của nguyên đơn bằng cách dùng số hàng tồn kho (ống nước, linh kiện ......) hiện công ty đang có để cấn trừ nợ cho nguyên đơn, vì hiện tại Công ty T2 gặp khó khăn không còn tiền chỉ còn hàng tồn kho rất nhiều, không bán được.
Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng không thành, do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
Yêu cầu Toà án buộc bị đơn trả số tiền công nợ còn lại là 40.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn (lãi suất 2%/tháng theo quy định tại Hợp đồng) tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/05/2025 là 39.546.667 đồng. Tổng cộng số tiền gốc, lãi tạm từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/05/2025 là 79.546.667 đồng. Thanh toán 1 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi phát sinh sau ngày 23/5/2025. Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
- Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, vụ án thụ lý đúng thẩm quyền. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về thời hạn chuẩn bị xét xử vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự tuy nhiên không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án.
- + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền công nợ còn thiếu là 40.000.000 đồng. Thanh toán 1 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi phát sinh sau ngày 23/5/2025. Đối với tiền lãi suất chậm thanh toán bị đơn yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử dựa trên mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 3 Ngân hàng để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và tư cách tham gia tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Xét nguyên đơn Công ty TNHH G yêu cầu bị đơn Công ty TNHH T2 trả tiền dư nợ còn thiếu và tiền lãi phạt do chậm thanh toán, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, bị đơn Công ty TNHH T2 có trụ sở tại địa chỉ số C T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về tư cách tham gia tố tụng của đương sự:
Công ty TNHH G là nguyên đơn; Công ty TNHH T2 là bị đơn là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:
Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, bị đơn đã được tiếp cận các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhưng bị đơn không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
[3.1]. Về yêu cầu Công ty TNHH T2 trả số tiền công nợ còn lại là 40.000.000 đồng:
Xét, Hợp đồng nguyên tắc số 120/18/HĐKT/TIL-TP ký ngày 16/11/2018 giữa Công ty TNHH G Người vận chuyển Quốc tế với Công ty TNHH T2 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 116 về giao dịch dân sự; Điều 117 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; Điều 119 về hình thức giao dịch dân sự và Điều 513 về hợp đồng dịch vụ của Bộ luật dân sự năm 2015. Các bên tham gia giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, các điều khoản của hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng trên là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Căn cứ vào hoá đơn giá trị gia tăng số 0001027, hoá đơn giá trị gia tăng số 0001028 cùng ngày 31/3/2021, các tài liệu, chứng từ do nguyên đơn giao nộp và lời khai nhận của nguyên đơn, bị đơn cho căn cứ xác định nguyên đơn đã thực hiện xong công việc vận chuyển như đã thoả thuận.
Xét, mục 2 Điều II của Hợp đồng nêu trên có thoả thuận về thời gian và phương thức thanh toán như sau: “Bên A có nghĩa vụ thanh toán cho Bên B tất cả các khoản phí dịch vụ, phí chi hộ trong vòng 30 ngày kể từ ngày phát hành hoá đơn giá trị gia tăng và Bên A nhận được đầy đủ chứng từ...”.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T2 chỉ mới thanh toán cho Công ty G số tiền 16.479.352 đồng (bao gồm tiền chi hộ 880.000 đồng). Do bị đơn Công ty TNHH T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền cước vận chuyển còn nợ là 40.0000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu Công ty TNHH T2 trả số tiền lãi thanh toán quá hạn:
Xét, Điều IV của Hợp đồng nguyên tắc số 120/18/HĐKT/TIL-TP ký ngày 16/11/2018 giữa Công ty TNHH G với Công ty TNHH T2 các có bên thỏa thuận: “Nếu Bên A không thanh toán đúng hạn theo Điều II.2 thì sẽ chịu tiền lãi phạt thanh toán quá hạn 2%/tháng cho đến ngày Bên B nhận được tiền vào tài khoản, tính từ thời điểm thanh toán trễ..."
Xét, nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH T2 trả số tiền lãi thanh toán quá hạn tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/05/2025 là 39.546.667 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự thì mức lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Các bên có thỏa thuận lãi suất chậm thanh toán là 2%/tháng (24%/năm) đã vượt quá 4%/năm so với quy định.
Tranh chấp của các bên phát sinh từ hợp đồng vận chuyển tài sản, đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Do đó, căn cứ Điều 4 Bộ luật dân sự 2015, Điều 4 Luật Thương mại 2005, Tòa án áp dụng Luật Thương mại 2005 làm căn cứ giải quyết vụ án. Cụ thể, áp dụng Điều 306 Luật Thương mại 2005 và Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao để tính lãi suất chậm trả đối với bị đơn.
Theo Văn bản số 1292/TBN-KT ngày 24/4/2025 của Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh T3 thì lãi suất cho vay thông thường áp dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp là 6.4%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất trong hạn tức là 9.6%/năm.
Theo Văn bản số 291/NHNo.TP-TH ngày 21/3/2025 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh T4 thì lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với pháp nhân phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tối đa là 7.5%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất trong hạn tức là 11.25%/năm.
Theo Văn bản số 06.25/2025/CV-ACO ngày 06/5/2025 của Ngân hàng TNHH MTV S – Chi nhánh T3 – Phòng giao dịch  thì lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với khoản vay sản xuất, kinh doanh tối thiểu là 10.5%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất trong hạn tức là 15.75%/năm.
Do đó, lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 3 Ngân hàng nêu trên được xác định là 12.20%/năm. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm trả 2%/tháng (24%/năm), cao hơn mức lãi suất trung bình của 3 Ngân hàng là không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử tính lại số tiền lãi thanh toán quá hạn tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/5/2025 như sau: 40.000.000 đồng x 12.20% x 04 năm 0 tháng 21 ngày = 19.804.666 đồng.
Như vậy, tổng cộng số tiền công nợ còn thiếu và lãi tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/5/2025 bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 40.000.000 đồng + 19.804.666 đồng = 59.804.666 đồng.
[3.3] Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi phát sinh sau ngày 23/5/2025.
[3.4] Về thời hạn thanh toán:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên có cơ sở chấp nhận.
[3.5] Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với việc yêu cầu số tiền lãi thanh toán quá hạn (lãi suất 2%/tháng theo quy định tại Hợp đồng) tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/05/2025 là 39.546.667 đồng, tương đương với việc Hội đồng xét xử không chấp nhận số tiền lãi 39.546.667 đồng - 19.804.666 đồng = 19.742.001 đồng.
[4] Bị đơn thừa nhận có ký Hợp đồng nguyên tắc số 120/18/HĐKT/TIL-TP ngày 16/11/2018 với Công ty TNHH G với nội dung và điều khoản như nguyên đơn trình bày. Do năm 2021, kinh tế khó khăn sau đại dịch C – 19, hoạt động kinh doanh của Công ty T2 bị chậm, việc thu hồi công nợ bị ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu nên chậm thanh toán công nợ cho nguyên đơn. Bị đơn đồng ý thanh toán nợ theo yêu cầu của nguyên đơn theo phương án dùng số hàng tồn kho không bán được (ống nước, linh kiện ......) để cấn trừ nợ cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy, thời gian thực hiện hợp đồng và và hạn cuối thanh toán nợ của bị đơn từ đầu năm 2011 đến hết ngày 01/5/2021, khoảng thời gian này không rơi vài thời gian giãn cách xã hội thoe Chỉ thị số 15 và 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch CoVid – 19, việc bị đơn trì hoãn nghĩa vụ thanh toán là gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu này của bị đơn.
[5]. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị đơn Công ty TNHH T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại số tiền là 3.000.000 đồng (tính trên tổng số tiền công nợ và lãi phải trả cho nguyên đơn là 59.804.666 đồng). Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Do Hội đồng xét xử không chấp yêu cầu của nguyên đơn đối với việc yêu cầu số tiền lãi thanh toán quá hạn tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/05/2025 là 39.546.667 đồng - 19.804.666 đồng = 19.742.001 đồng. Nên nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền lãi không được chấp nhận (19.742.001 đồng) là 3.000.000 đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045725 ngày 14/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng theo biên lai thu số 0078120 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 68; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 4; Điều 116; Điều 117; Điều 119; Điều 513; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 4; Điều 306 Luật thương mại năm 2005;
Căn cứ Điều 6; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 11; Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao;
Tuyên xử:
- [1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH G, cụ thể như sau:
Buộc Công ty TNHH T2 phải trả cho Công ty TNHH G Người vận chuyển Quốc tế số tiền công nợ còn thiếu và lãi tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/5/2025 là: 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng + 19.804.666 (mười chín triệu tám trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng = 59.804.666 (năm mươi chín triệu tám trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.
Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi phát sinh sau ngày 23/5/2025.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- [2] Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi thanh toán quá hạn (lãi suất 2%/tháng theo quy định tại Hợp đồng) tạm tính từ ngày 02/5/2021 đến ngày 23/05/2025 đối với số tiền là 19.742.001 đồng (39.546.667 đồng - 19.804.666 đồng).
- [3] Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại số tiền là 3.000.000 (ba triệu) đồng. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Công ty TNHH G phải chịu án phí trên số tiền lãi không được chấp nhận (19.742.001 đồng) là 3.000.000 (ba triệu) đồng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 3.000.000 (ba triệu) đồng mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045725 ngày 14/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng theo biên lai thu số 0078120 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- [4] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 56/2025/KDTM-ST ngày 13/06/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 56/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2026
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ dịch vụ
