Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 56/2026/DS-PT

Ngày 21 tháng 01 năm 2026

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

__________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hồng
  • Các thẩm phán: Ông Lê Hoàng Tấn, Ông Trần Ngọc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi – Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3814/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1957; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Xuân S, sinh năm 1976; Địa chỉ: B, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958 (đã chết).

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H1:

    • 2.1. Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1956, vắng mặt;
    • 2.2. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1977, vắng mặt;
    • 2.3. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1979, vắng mặt;
    • 2.4. Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1983, vắng mặt;
    • 2.5. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1987, vắng mặt;

    Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị Đ, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thị Thúy K, Nguyễn Văn D có: Ông Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1983; Địa chỉ: 2 đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1977, có đơn xin vắng mặt;
    • 3.2. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1979, có mặt;
    • 3.3. Ông Nguyễn Trí P, sinh năm 1981, có đơn xin vắng mặt;
    • 3.4. Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1984, có đơn xin vắng mặt;
    • 3.5. Ông Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 1989, có đơn xin vắng mặt;

    Cùng địa chỉ: Số I hẻm I tỉnh lộ 768, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).

    3.6. Bà Phan Thị Đ; 3.7. Ông Nguyễn Văn H2; 3.8. Ông Nguyễn Văn H3; 3.9. Bà Nguyễn Thị Thúy K; 3.10. Ông Nguyễn Văn D. (Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai).

    3.11. Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai), có đơn xin vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Bà Phạm Thị X; Bà Nguyễn Thị Minh T, bà Nguyễn Thị Tuyết M, ông Nguyễn Trí P, bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Nguyễn Minh Đ1.
  5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Phạm Thị X trình bày: Thửa đất số 505, tờ bản đồ số 12 cũ (nay là thửa số 210 tờ bản đồ số 28) diện tích 2.060m2 tại xã T, huyện V có nguồn gốc của ông nội chồng bà X là cụ Nguyễn Văn L. Năm 1975, cụ S1 (cha chồng) cho con trai là ông Nguyễn Văn Ú (chồng bà X) sử dụng. Năm 1997, ông Ú được cấp GCNQSDĐ. Cùng năm này, ông Ú cho ông Nguyễn Văn H1 mượn đất để trồng cỏ nuôi bò. Đến năm 2010, ông H1 không trả lại đất. Nay bà X yêu cầu buộc ông H1 và những người kế thừa trả lại diện tích 1.593m2 thuộc thửa 210, tờ 28.

Bị đơn và những người kế thừa quyền lợi của ông H1 trình bày: Nguồn gốc đất là của cụ S1 và cụ L1. Năm 1975, cụ S1 chia đất cho các con, trong đó ông H1 là con út được giao quản lý phần diện tích còn lại (bao gồm thửa 505). Ông H1 trực tiếp canh tác từ đó đến nay. Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Ú là không đúng đối tượng. Bị đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 và hủy một phần GCNQSDĐ đã cấp cho ông Ú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo và kháng nghị thực hiện đúng thời hạn và thủ tục quy định.

[2] Xét nội dung: Hội đồng xét xử nhận thấy nguồn gốc đất do cụ S1 để lại cho ông Ú và ông H1 sử dụng. Tuy nhiên, hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Ú năm 1997 không có biên bản đo đạc thực tế và không có chữ ký giáp ranh. Lời khai của các nhân chứng xác nhận gia đình ông H1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng và canh tác trên đất từ trước năm 1978 đến nay. Việc ông Ú kê khai và được cấp giấy chứng nhận nhưng không trực tiếp sử dụng là chưa phù hợp quy định pháp luật. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Đất đai:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
    • - Công nhận quyền sử dụng đất cho những người kế thừa của ông H1 đối với thửa đất số 210 (diện tích 1.593m2) và thửa đất số 275 (diện tích 231m2) thuộc tờ bản đồ số 28, xã T, huyện V.
    • - Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 157465 do UBND huyện V cấp cho ông Nguyễn Văn Ú ngày 31/10/1997 đối với phần diện tích thuộc các thửa đất nêu trên.
  3. Về án phí: Bà Phạm Thị X được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi. Hoàn trả tạm ứng án phí cho các đương sự theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị X và của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh T, bà Nguyễn Thị Tuyết M, ông Nguyễn Trí P, bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Nguyễn Minh Đ1. - Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn H1 (ông đã Hai chết) và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1 là bà Phan Thị Đ, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị Thúy K, ông Nguyễn Văn D, trả lại diện tích 2.060m2, đất thuộc thửa 505 tờ bản đồ số 12 (nay là thửa 210 và thửa đất số 275 tờ số 28), tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger