Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 55/2026/DS-PT
Ngày: 27 - 01 - 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Triết

Các Thẩm phán: Ông Phạm Cao Gia, Ông Y Phi Kbuôr

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 450/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2025/DSST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 495/2025/QĐ-PT ngày 15/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18b/2025/QĐ-PT ngày 08/01/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty G. Địa chỉ trụ sở: Số 84 TH, phường TA, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Quang T. Địa chỉ: Số 84 TH, phường TA, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Bị đơn: Bà Đặng Thị A, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 23 SVH, phường BMT, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Đặng Quang T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 84 TH, phường TA, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
  • Bà Đỗ Thị Ánh Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số 52 thôn TC, xã DB, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bà Đặng Hoàng Y, sinh năm 1984 và ông Bùi Thành N. Cùng địa chỉ: Số 15A, hẻm 3, thôn 3, Tỉnh lộ 5, phường BMT, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn và xây dựng DAD có địa chỉ trụ sở tại số 48 LCT, phường TA, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường TA, tỉnh Đắk Lắk) thay đổi tên thành Công ty G (nguyên đơn) và thay đổi địa chỉ trụ sở tại số 84 TH, phường TA, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường TA, tỉnh Đắk Lắk).

Ngày 29/08/2022, nguyên đơn có ký Hợp đồng thiết kế - thi công công trình trọn gói số 15/2022/HĐ-TKTC với bà Đặng Thị A (bị đơn). Theo hợp đồng này, nguyên đơn sẽ thiết kế, thi công, xây dựng mới cho bị đơn 01 căn nhà 02 tầng tại thửa đất số 210, tờ bản đồ số 82, địa chỉ tại số 15A, hẻm 03, thôn 3, Tỉnh lộ 5, phường BMT, tỉnh Đắk Lắk với tổng giá trị hợp đồng trọn gói là 1.145.000.000 đồng.

Sau khi ký kết hợp đồng, nguyên đơn đã tiến hành các công việc khảo sát, thiết kế, mua sắm vật tư, vật liệu và tổ chức thi công hoàn thiện 85,4% công trình. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 17/9/2022 bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 300.000.000 đồng. Do bị đơn không tiếp tục thanh toán chi phí xây dựng theo thỏa thuận nên đến giữa tháng 12/2022, nguyên đơn đã ngừng thực hiện thi công. Các hạng mục nguyên đơn chưa thi công bao gồm:

  • Vật tư chưa hoàn thiện tổng số tiền là 119.263.545 đồng, cụ thể:
    • Phần hoàn thiện: Cầu thang kính cường lực + tay cầm gỗ, cửa gỗ phòng ngủ, đá mặt bếp, tủ bếp trên dưới, lan can inox + kính cường lực.
    • Phần thiết bị điện: 60 đèn âm trần T cao filip, 02 đèn cầu thang, 02 đèn lan can, 01 đèn chùm, 02 đèn cổng.
    • Phần thiết bị nước: vòi nóng lạnh rửa chén Viglaxera, 03 vòi sen tắm Viglaxera, 03 Lavabor Viglaxera, 03 bệ đỡ Lavabor Viglaxera, 01 chậu rửa chén Viglaxera, 03 bồn cầu Viglaxera.
  • Cổng sắt + phụ kiện trị giá: 12.000.000 đồng.
  • Nội thất phòng ngủ + phòng khách: 70.000.000 đồng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền thi công còn thiếu 684.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 655.549.638 đồng và rút một phần yêu cầu về lãi và hoàn trả tài sản.

2. Bị đơn bà Đặng Thị A trình bày:

Bị đơn cho rằng việc ký hợp đồng với nguyên đơn là để trừ khoản nợ 2.000.000.000 đồng mà ông T và bà Đ vay của bị đơn. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng đây là thỏa thuận khấu trừ nợ cá nhân.

3. Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Đặng Quang T và bà Đỗ Thị Ánh Đ xác định việc kinh doanh của Công ty G là độc lập với các khoản nợ cá nhân giữa họ và bà A. Bà Đặng Hoàng Y xác định không liên quan đến tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đặng Thị A là hợp lệ.

[2] Xét nội dung kháng cáo: Hợp đồng thiết kế - thi công số 15/2022/HĐ-TKTC có hiệu lực pháp luật. Bị đơn cho rằng ký hợp đồng để khấu trừ nợ nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Hội đồng xét xử xác định tổng giá trị công trình nguyên đơn đã thực hiện là 923.335.088 đồng. Sau khi khấu trừ 300.000.000 đồng đã thanh toán, bị đơn còn phải trả 623.335.088 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị A – giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
  2. Về án phí phúc thẩm: Bà Đặng Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(Đã ký)


Nguyễn Đình Triết
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2026/DS-PT ngày 27/01/2026 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 55/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngày 29/8/2022 công ty G ký hợp đồng thiết kế thi công trọn gói căn nhà 2 tầng với bà A với giá 1145000000đ. công ty G đã hoàn thành85,4% xảy ra tranh chấp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger