Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 54/2026/DS-PT

Ngày 21 - 01 - 2026

V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản và

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán: Ông Lê Hoàng Tấn
Bà Trần Thị Thúy Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 15 và 21 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 140/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3708/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1935 (vắng mặt);
  2. Bà Huỳnh Sở N, sinh năm 1940 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ tại nước ngoài: C T, W, USA.

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh H1, bà Huỳnh Sở N: Bà Cam Thị Ánh T, sinh năm 1985 (có mặt);

Địa chỉ: Số F, đường P, khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Số F, đường P, khóm B, phường P, tỉnh Vĩnh Long).

- Bị đơn: Ông Từ Quốc Đ, sinh năm 1984 (có mặt ngày 15/01/2026, vắng mặt ngày 21/01/2026);

Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Số A, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện hợp pháp của ông Từ Quốc Đ: Bà Lê Diệp Xuân C, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: Số F, đường T, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ (Nay là: Số F, đường T, phường N, thành phố Cần Thơ).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Từ Quốc Đ:

+ Ông Lê Văn C1 – Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (có đơn xin vắng mặt ngày 15/01/2026, có mặt ngày 21/01/2026);

+ Bà Trần Thị Phương T1 – Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (có mặt ngày 15/01/2026, vắng mặt ngày 21/01/2026).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lưu Hòa A, sinh năm 1955 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Số A, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).

  1. Bà Lê Diệp Xuân C, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số F, đường T, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Diệp Xuân C:

+ Ông Lê Văn C1 – Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (có đơn xin vắng mặt ngày 15/01/2026, có mặt ngày 21/01/2026);

+ Bà Trần Thị Phương T1 – Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (có mặt ngày 15/01/2026, vắng mặt ngày 21/01/2026).

  1. Bà Từ Tú M, sinh năm 1980 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số A, đường D, khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Số A, đường D, khóm H, phường P, thành phố Cần Thơ).

  1. Bà Từ Tú H2, sinh năm 1978 (vắng mặt);

Địa chỉ tại nước ngoài: G Barbara Ave West C, USA.

Người đại diện hợp pháp của bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú M và bà Từ Tú H2: Ông Từ Quốc Đ, sinh năm 1984 (có mặt ngày 15/01/2026, vắng mặt ngày 21/01/2026)

Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Số A, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).

  1. Bà Trần Thị Mỹ T2, sinh năm 1971 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: A TH A.

  1. Bà Trần Mỹ L, sinh năm 1966 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: F Woodduck DR SW O.

  1. Bà Trần Mỹ D, sinh năm 1964 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: F NE 7th C., R, WA98059, USA.

  1. Bà Trần Thị Mỹ T3, sinh năm 1968 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: A B, R, WA 98058.

  1. Ông Trần Cẩm K, sinh năm 1973 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: 13004 SE 171st P, R, WA98038, USA.

  1. Ông Trần Cẩm N1, sinh năm 1974 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: C S T, S, WA I, USA.

  1. Bà Trần Mỹ N2, sinh năm 1980 (con ông H1, bà N) (vắng mặt);

Địa chỉ: E DucK W, R, NC B, USA.

Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Mỹ T2, bà Trần Mỹ L, bà Trần Mỹ D, bà Trần Thị Mỹ T3, ông Trần Cẩm K, ông Trần Cẩm N1 và bà Trần Mỹ N2: Bà Cam Thị Ánh T, sinh năm 1985 (có mặt);

Địa chỉ: Số F, đường P, khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Số F, đường P, khóm B, phường P, tỉnh Vĩnh Long).

  1. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Long;

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Long: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long (có văn bản xin vắng mặt).

  1. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh V (có văn bản xin vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn R1, sinh năm 1954 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).

  1. Ông Trần Thanh L1, sinh năm 1930 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).

  1. Ông Huỳnh Chánh Đ1, sinh năm 1977 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số B, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (Nay là: Số B, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long).

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: bị đơn ông Từ Quốc Đạt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 25/7/2023, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 25/9/2024, ngày 14/02/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N là bà Cam Thị Anh T trình bày:

Vợ chồng ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N là chủ sử dụng thửa đất số 276, tờ bản đồ số 4, diện tích 162m², đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và căn nhà tường gắn liền trên đất, do ông Trần Thanh H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L cấp giấy chứng nhận lần đầu vào ngày 22/11/1991, nhà đất có nguồn gốc ông H1 và bà N nhận chuyển nhượng của người khác trước năm 1975. Do ông H1, bà N được con trai bảo lãnh xuất cảnh sang Hoa Kỳ định cư nên ngày 10/5/1991 ông H1 làm “Khế ước gửi giữ nhà” có nội dung “Tên tôi là Trần Thanh H1, sinh 18/7/1935, là chủ căn hộ địa chỉ 395, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Hôm nay tôi soạn khế ước này trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn R1 và ông Trần Thanh L1 để quyết định gửi căn hộ trên cho cháu tôi là Từ Định H3 sinh 1952, sẽ tiếp quản, gìn giữ tu sửa, chăm sóc trong lúc gia đình chúng tôi vắng mặt”, có chữ ký tên của ông Trần Thanh H1, ông Từ Định H3 và hai người làm chứng là ông Nguyễn Văn R1 và ông Trần Thanh L1.

Trong thời gian nhận giữ nhà đất giùm cho ông H1, bà N, ông H3 tự ý kê khai đăng ký đứng tên nhà đất của ông H1, bà N. Nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994 ông H3 chết, đến năm 2002 bà Lưu Hòa A vợ ông H3 kê khai nhận thừa kế nhà đất ông H3 nhận giữ giùm ông H1, bà N. Ngày 29/5/2017 bà Lưu Hòa A được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chương trình Vlap đổi thành thửa mới là thửa số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², loại đất: ONT. Năm 2022, bà Hòa A thực hiện thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, thửa số 55, tờ bản đồ số 26, cho ông Từ Quốc Đ đứng tên Giấy chứng nhận, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V ký cấp ngày 17/5/2022.

Ngoài ra, trong thời gian nhờ ông H3 giữ nhà giùm vợ chồng ông H1, bà N có gửi tiền về cho ông H3 sửa chữa nhà, số tiền gửi về cho ông H3 sửa chữa nhà bao nhiêu thì không nhớ, ông H3 không có dùng tiền của ông H3 để sửa chữa nhà, sau khi ông H3 chết, ông Từ Quốc Đ (con của ông H3 và bà Lưu Hòa A) quản lý nhà đất. Mỗi lần ông H1, bà N về Việt Nam thì bà Lưu Hòa A (mẹ của ông Đ) vẫn đưa chìa khóa cho ông H1, bà N vào thăm nhà, đốt nhang bàn thờ, tất cả đồ đạc, vật dụng, bàn thờ vẫn còn nguyên. Ông H1, bà N có nhu cầu về Việt Nam sinh sống nên yêu cầu bà Hòa A trả nhà đất, bà Hòa A không đồng ý, bà Hòa A nói nhà đất do ông Từ Quốc Đ đứng tên, ông Đ mới có quyền quyết định, ông Đ không đồng ý trả. Nên ông H1, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Buộc ông Từ Quốc Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lưu Hòa A, bà Lê Diệp Xuân C phải trả lại cho ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N thửa đất số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn và một căn nhà tường gắn liền với thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

+ Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 10/08/2021 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 17/5/2022.

+ Vô hiệu giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991 và vô hiệu tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991.

Tại tờ tường trình ngày 05/12/2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Từ Quốc Đ trình bày:

Không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi vì:

Nguồn gốc phần đất diện tích 162m² và căn nhà tường gắn liền với phần đất diện tích 162m² thuộc thửa 276, đất tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do cha ông Đ là ông Từ Định H3 được ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N tặng cho vào năm 1991. Theo văn bản tặng cho thì ông H1 và bà N cho ông H3 căn nhà dài 13,2m, ngang 4m và phần đất diện tích 162m² thể hiện tại giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991 được Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 23/5/1991. Đến ngày 27/5/1991 ông H1, bà N và các con là Trần Mỹ D, Trần Mỹ L, Trần Mỹ T3, Trần Mỹ T2, Trần Cẩm K, Trần Cẩm N1, Trần Cẩm N3 cùng ký tên cho đứt ông H3 nhà và đất được Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 25/5/1991.

Ngày 29/5/1991 Ủy ban nhân dân huyện L chấp thuận cho ông Từ Định H3 được phép chuyển nhượng thành quả lao động và quyền sử dụng đất trên phần đất thuộc thửa 276, diện tích 162m², loại đất thổ cư từ ông Trần Thanh H1 đứng tên quyền sử dụng đất, dựa trên chấp thuận này ông H3 kê khai đăng ký đứng tên nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1994 ông H3 chết. Vài năm sau khi ông H3 chết bà Lưu Hòa A (vợ ông H3) là mẹ ông Đ làm thủ tục hưởng thừa kế đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhận thừa kế từ ông H3. Năm 2022, bà Hòa A thực hiện thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, thửa số 55, tờ bản đồ số 26, cho ông Từ Quốc Đ đứng tên Giấy chứng nhận, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V ký cấp ngày 17/5/2022.

Bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay do ông Đ còn đang quản lý không có thế chấp cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Ông Đ cho rằng chữ ký H3 (dạng chữ ký) dưới mục Từ Định Hùng ký tên, tại “Khế ước gửi giữ nhà ngày 10/5/1991” do phía nguyên đơn cung cấp không phải là chữ ký của ông Từ Định H3 cha ông Đ. Trong quá trình đi nước ngoài vợ chồng ông H1, bà N có gửi tiền về để bà Lưu Hòa A là vợ ông H3 làm từ thiện chứ không phải gửi về để bà Hòa A sửa chữa căn nhà vợ chồng ông H1, bà N tặng cho ông H3 vào năm 1991. Việc sửa chữa nhà của ông H1, bà N tặng cho ông H3 trong quá trình sử dụng là do gia đình của ông Đlà: Lưu Hòa A, Từ Quốc Đ, Từ Tú Mvà Từ Tú H2 cùng hùng tiền để sửa chữa.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú M và bà Từ Tú H2 là ông Từ Quốc Đ trình bày:

Thống nhất ý kiến của bị đơn ông Từ Quốc Đ đã trình bày. Bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú M và bà Từ Tú H2 không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Diệp Xuân C trình bày: Bà là vợ của ông Từ Quốc Đ, bà thống nhất theo ý kiến trình bày của ông Đ. Bà C không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mỹ T2, bà Trần Mỹ L, bà Trần Mỹ D, bà Trần Thị Mỹ T3, ông Trần Cẩm K, ông Trần Cẩm N1 và bà Trần Mỹ N2 là bà Cam Thị Ánh T trình bày:

Thống nhất theo ý kiến của bà Cam Thị Ánh T đại diện cho nguyên đơn đã trình bày. Bà Trần Thị Mỹ T2, bà Trần Mỹ L, bà Trần Mỹ D, bà Trần Thị Mỹ T3, ông Trần Cẩm K, ông Trần Cẩm N1 và bà Trần Mỹ N2 không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn R1 trình bày: Vào thời điểm ngày 10/5/1991 ông R1 giữ chức vụ: Trưởng Công an xã P, do ông là Trưởng Công an xã nên ngày 10/5/1991 ông H1 và ông H3 nhờ ông chứng kiến việc ông H1 lập khế ước gửi cho cháu là ông H3 giữ giùm nhà đất ở địa chỉ số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nhà đất tại vị trí hiện nay các bên đang tranh chấp là thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn và một căn nhà tường gắn liền với đất. Ông R1 xác định chữ ký tại tờ khế ước ngày 10/5/1991 là của ông. Tại thời điểm đó ông là Công an chỉ quản lý địa bàn chứ không biết ông H1 có giao các vật dụng, bàn thờ tổ tiên cho ông H3 quản lý không thì ông không biết. Nhưng trong thời gian ông công tác ông H1 định cư nước ngoài về thăm quê hương có ở tại căn nhà số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long trước đây ông H1 giao cho ông H3 quản lý giùm. Sau khi ông H3 chết mới xảy ra tranh chấp. Ông bảo lưu lời trình bày và xin vắng mặt không tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người làm chứng ông Trần Thanh L1 trình bày: Ngày 10/5/1991 ông có chứng kiến việc ông H1 lập khế ước gửi cho cháu là ông H3 giữ giùm nhà đất ở địa chỉ số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nhà đất tại vị trí hiện nay các bên đang tranh chấp. Ông L1 xác định chữ ký tại tờ khế ước ngày 10/5/1991 là của ông. Ông H1 chỉ gửi cho ông H3 giữ nhà đất giùm chứ không có tặng cho. Ông là người hàng xóm với ông H1 trước đây nên ông biết sự việc. Khi ông H1 sang Hoa Kỳ định cư các vật dụng bàn thờ tổ tiên trong nhà để lại cho ông H3 đốt nhang thờ cúng. Mỗi lần ông H1 ở nước ngoài về thăm quê hương có ở tại căn nhà số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long trước đây ông H1 giao cho ông H3 quản lý giùm. Sau khi ông H3 chết mới xảy ra tranh chấp. Các vật dụng thờ cúng trong căn nhà hiện nay còn hay không ông không biết. Ông bảo lưu lời trình bày và xin vắng mặt không tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người làm chứng ông Huỳnh Chánh Đ1 trình bày: Ông là cháu gọi ông Trần Thanh H1 là cậu, gọi ông Từ Định H3 là cậu. Vào năm 1991, ông biết rõ gia đình ông H1 sang Mỹ định cư. Gia đình ông H1 có cho ông H3 căn nhà ở địa chỉ 395, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Cửu Long là đúng sự thật. Từ khi ông H1 sang Mỹ định cư đến khi ông H3 chết năm 1994, ông H1 và ông H3 không có cơ hội gặp nhau. Ông biết khoảng năm 1996, ông H1 mới có chuyến về Việt Nam lần đầu tiên sau khi đi Mỹ. Gia đình ông H3 đã sử dụng nhà đất nhiều lần tu sửa và quản lý căn nhà ổn định, công khai, liên tục hơn 30 năm không bị ai tranh chấp, cản trở.

Theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 thì phần đất tranh chấp thửa 55, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ONT, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024 thì giá trị đất và tài sản có tại thửa đất số 55 giữa nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất thỏa thuận là: Giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường 16.900.000₫ (Mười sáu triệu chín trăm nghìn đồng)/1m². Giá trị tổng cộng căn nhà và các công trình phụ gắn liền với đất là: 521.259.843đ (Năm trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm bốn mươi ba đồng) (trong 521.259.843đ có giá trị còn lại căn nhà của ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N là 100.000.000đ và giá trị còn lại của phần sửa chữa tất cả các hạng mục công trình nhà và các công trình trên đất là 421.259.843đ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với việc nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N rút khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 10/8/2021.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N.

2.1. Vô hiệu “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực vào ngày 23/5/1991 và Vô hiệu “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực vào ngày 25/5/1991.

2.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành DE 817218, tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (ONT), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V ký cấp ngày 17/5/2022.

2.3. Công nhận thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (ONT), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long gắn liền với nhà và tài sản trên đất là: Nhà chính (diện tích xây dựng 58,95m². Tổng diện tích sàn 117,9m²), nhà bếp + khu vệ sinh (diện tích 40,95m²) và sân phơi phía sau khu nhà bếp (diện tích 31,5m²) theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 và theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024. Là thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N.

2.4. Buộc ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú M, bà Từ Tú H2 và bà Lê Diệp Xuân C (vợ ông Đ) liên đới trả cho vợ chồng ông Trần Thanh H1, bà Huỳnh Sở N thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (ONT), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long gắn liền với nhà và tài sản trên đất là: Nhà chính (diện tích xây dựng 58,95m². Tổng diện tích sàn 117,9m²), nhà bếp + khu vệ sinh (diện tích 40,95m²) và sân phơi phía sau khu nhà bếp (diện tích 31,5m²) theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 và theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024.

2.5. Buộc ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A và bà Lê Diệp Xuân C di dời toàn bộ tài sản của ông Đ, bà Hòa A và bà C ra khỏi thửa đất số 55 để trả lại nhà, đất tại thửa số 55 cho ông Trần Thanh H1, bà Huỳnh Sở N.

2.6. Cho ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A và bà Lê Diệp Xuân C được lưu cư trong thời hạn 06 (Sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn trên mà ông Đ, bà Hòa A và bà C không di dời toàn bộ tài sản của ông Đ, bà Hòa A và bà C đi ra khỏi thửa đất số 55 để trả lại nhà, đất tại thửa số 55 cho ông H1, bà N. Thì ông H1, bà N có quyền yêu cầu cưỡng chế thi hành án.

2.7. Ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N được quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở theo quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014.

2.8. Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 và theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024.

  1. Buộc ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N liên đới trả cho ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M giá trị phần sửa chữa nhà chính (diện tích 58,95m². Tổng diện tích sàn 117,9m²), nhà bếp + khu vệ sinh (diện tích 40,95m²) và sân phơi phía sau khu nhà bếp (diện tích 31,5m²) bằng tiền là 421.259.843₫ (Bốn trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm bốn mươi ba đồng).
  2. Buộc ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N liên đới trả công sức, giữ gìn, quản lý thửa đất số 55 và căn nhà trên đất cho ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M bằng 30% giá trị thửa đất và căn nhà trên đất là 696.198.000₫ (Sáu trăm chín mươi sáu triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm, quyền thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 18/6/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long có Quyết định kháng nghị số 107/QĐ-VKS-DS kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 16/6/2025, bị đơn ông Từ Quốc Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

+ Bà Lê Diệp Xuân C đại diện cho ông Đ không đồng ý với tất cả các yêu cầu khởi kiện của ông H1, bà N. Bà C cho rằng tại căn nhà tranh chấp chỉ có một mình bà Hòa A ở, thỉnh thoảng ông Đ, bà C và các cháu là Từ Phúc Trường 13 tuổi, Từ Phúc Hưng 06 tuổi từ Cần Thơ về ở vài ngày rồi về lại Cần Thơ. Chi phí sửa chửa nhà và các công trình trên đất giá trị còn lại theo các bên thỏa thuận 421.259.843₫ là của bà Lưu Hòa A, ông Từ Quốc Đ, bà Từ Tú M và bà Từ Tú H2 không phải của ông H1, bà N gửi tiền về sửa chữa nhà. Trong thời gian ông H1, bà N đi nước ngoài có gửi tiền về cho bà Hòa A nhận để làm từ thiện và đóng góp cho địa phương giùm cho ông H1, bà N.

+ Ông Đ đại diện cho bà Hòa A, bà M và bà H2 không đồng ý với tất cả các yêu cầu khởi kiện của ông H1, bà N. Ông Đ thống nhất với ý kiến của bà C đã trình bày.

+ Luật sư Trần Thị Phương T1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Từ Quốc Đ và bà Lê Diệp Xuân C đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Bà Cam Thị Ánh T đại diện cho nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà T cung cấp một số chứng từ chuyển tiền của ông H1, bà N cho bà Lưu Hòa A về việc sửa chữa căn nhà tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các chứng từ nói trên.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; các đương sự và Luật sư có mặt đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Cho thấy tổng giá trị tài sản là nhà, đất tranh chấp là 2.741.919.843 đồng, bản án sơ thẩm tuyên công nhận nhà đất cho nguyên đơn, buộc nguyên đơn trả cho bị đơn công sức giữ gìn, tôn tạo, sửa chữa nhà với số tiền 1.117.457.843 đồng (gần ½ giá trị tài sản) là hợp tình hợp lý, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Do đó, đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh rút kháng nghị về phần nội dung. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung rút kháng nghị; bác kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm về nội dung. Tuy nhiên, theo hồ sơ vụ án, không có tài liệu chứng minh ông H1, bà N là công dân có quốc tịch Việt Nam. Án sơ thẩm miễn án phí cho nguyên đơn là không đúng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị, căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn nộp án phí dân sự sơ thẩm là 69.523.735 đồng (36 triệu + 3% giá trị vượt 800 triệu đồng)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các đương sự; kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long; đơn kháng cáo của bị đơn ông Từ Quốc Đ trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện hợp pháp của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh V và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh V và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn:

Ông Trần Thanh H5 và bà Huỳnh Sở N (có bà Cam Thị Ánh T làm đại diện), ông Từ Quốc Đ(có bà Lê Diệp Xuân Clàm đại diện), bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú Mvà bà Từ Tú H2 (có ông Từ Quốc Đ làm đại diện) đều thừa nhận ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N là chủ sở hữu căn nhà cấp 4 và thửa đất số 276 (nay là thửa 55), tờ bản đồ số 4 (nay là tờ bản đồ số 26), diện tích 162m² (nay diện tích còn lại là 131,4m²), mục đích sử dụng đất ONT, toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nên ông H1, bà N không cần phải chứng minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vợ chồng ông H1, bà N yêu cầu giám định chữ ký của ông H1, bà N tại “Giấy cho đứt nhà lập ngày 06/5/1991” và “Tờ đồng ý cho đứt nhà lập ngày 27/5/1991” do ông Đ cung cấp, ông Đ yêu cầu giám định chữ ký của ông H3 tại “Khế ước gửi giữ nhà ngày 10/5/1991” do vợ chồng ông H1, bà N cung cấp. Bà N không cung cấp được đầy đủ các mẫu chữ ký theo yêu cầu của Tòa án nên rút lại không yêu cầu giám định chữ ký của bà N. Tại Công văn số: 318/PC09-Đ2 của Phòng K1 Công an tỉnh V khước từ giám định lý do: Chữ ký mẫu so sánh mang tên Trần Thanh H1 không ổn định, chữ ký cần giám định mang tên Từ Định H3 không đồng dạng với chữ ký mẫu so sánh, nên không đủ cơ sở tiến hành giám định.

Do Phòng K1 Công an tỉnh V khước từ giám định. Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét, nhận định, đánh giá từng chứng cứ, xét tính khách quan, tính liên quan và có thật của từng tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Cụ thể:

[2.1] Đối với lời khai của bị đơn ông Đ cho rằng nhà và đất tranh chấp tại thửa 276 (nay đổi lại thành thửa mới là thửa số 55) do vợ chồng ông H1, bà N tặng cho ông H3 (cha ông Đ) vào năm 1991 bằng “Giấy cho đứt nhà lập ngày 06/5/1991" và “Tờ đồng ý cho đứt nhà lập ngày 27/5/1991” nhưng ông H1, bà N không thừa nhận chứng cứ do ông Đ cung cấp. Hội đồng xét xử xét thấy:

“Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực vào ngày 23/5/1991. Việc chứng thực của ông H4 sau ngày lập văn bản 17 ngày, ông H4 đã chết nên không tiến hành xác minh để làm rõ có việc vợ chồng ông H1, bà N tặng cho ông H3 (cha ông Đ) nhà đất tại thửa 276 vào năm 1991 (nay đổi lại thành thửa mới là thửa số 55) hay không? ai là người mang “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” đến Ủy ban nhân dân xã để cho ông H4 xác nhận? ông H4 có trực tiếp chứng kiến vợ chồng ông H1, bà N và ông H3 cùng ký tên vào “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” hay không? Từ đó cho thấy, ông H4 chứng thực “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” vào ngày 23/5/1991, tức sau ngày lập văn bản 17 ngày, ông H4 không trực tiếp chứng kiến vợ chồng ông H1, bà N và ông H3 cùng ký tên vào “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” mà ký tên chứng thực là chưa đúng theo quy định tại Điều 11 Nghị định số: 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ.

- Đối với “Tờ đồng ý cho đứt nhà lập ngày 27/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực vào ngày 25/5/1991. Việc chứng thực của ông H4 trước ngày lập văn bản 02 ngày, ông H4 đã chết nên không tiến hành xác minh để làm rõ có việc gia đình vợ chồng ông H1, bà N tặng cho ông H3 (cha ông Đ) nhà đất tại thửa 276 vào năm 1991 (nay đổi lại thành thửa mới là thửa số 55) hay không? Lý do gì ông H4 chứng thực trước ngày lập văn bản? ai là người mang “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” đến Ủy ban nhân dân xã để cho ông H4 xác nhận? ông H4 trực tiếp có trực tiếp chứng kiến gia đình vợ chồng ông H1, bà N và ông H3 cùng ký tên vào “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” hay không? Từ đó cho thấy, ông H4 chứng thực “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” vào ngày 25/5/1991, tức trước ngày lập văn bản 02 ngày, ông H4 không trực tiếp chứng kiến gia đình vợ chồng ông H1, bà N và ông H3 cùng ký tên vào “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” mà ký tên chứng thực là chưa đúng theo nguyên tắc, thông lệ trong công chứng chứng thực “Việc ký, điểm chỉ của người yêu cầu công chứng, chứng thực phải được thực hiện trước mặt người thực hiện công chứng, chứng thực”.

Ngoài các “Giấy cho đứt nhà lập ngày 06/5/1991” và “Tờ đồng ý cho đứt nhà lập ngày 27/5/1991” ông Đ còn cung cấp giấy xác nhận ngày 13/5/2025 của người làm chứng là ông Huỳnh Chánh Đ1, sinh ngày 06/8/1977, có nội dung: “Ông là cháu gọi ông Trần Thanh H1 là cậu, gọi ông Từ Định H3 là cậu. Vào năm 1991, gia đình ông H1 có cho ông H3 căn nhà ở địa chỉ 395, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Cửu Long là đúng sự thật. Từ khi ông H1 sang Mỹ định cư đến khi ông H3 chết năm 1994, ông H1 và ông H3 không có cơ hội gặp nhau. Ông biết khoảng năm 1996, ông H1 mới có chuyến về Việt Nam lần đầu tiên sau khi đi Mỹ định cư”. Xét thấy, tại thời điểm năm 1991 ông Đ1 mới 14 tuổi chưa thành niên. Ông Đ1 không có chứng kiến việc gia đình ông H1 lập văn bản cho ông H3 nhà đất. Nên việc làm chứng của ông Đ1 không có căn cứ.

Nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông H1, bà N vô hiệu các chứng cứ do bị đơn cung cấp là “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” và “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Đối với “Khế ước gửi giữ nhà ngày 10/5/1991” của vợ chồng ông H1, bà N gửi cho cháu là ông Từ Định H3 giữ nhà đất giùm tại thửa 276 vào năm 1991. Hội đồng xét xử xét thấy:

“Khế ước gửi giữ nhà ngày 10/5/1991” do vợ chồng ông H1, bà N cung cấp có nội dung “Tên tôi là Trần Thanh H1, sinh 18/7/1935, là chủ căn hộ địa chỉ 395, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Hôm nay tôi soạn khế ước này trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn R1 và ông Trần Thanh L1 để quyết định gửi căn hộ trên cho cháu tôi là Từ Định H3 sinh 1952, sẽ tiếp quản, gìn giữ tu sửa, chăm sóc trong lúc gia đình chúng tôi vắng mặt”, có chữ ký tên của ông Trần Thanh H1, ông Từ Định H3 và hai người làm chứng là ông Nguyễn Văn R1 và ông Trần Thanh L1.

- Tại Biên bản xác minh ngày 10/3/2025 (BL 366-367) ông Nguyễn Văn R1 xác định: Vào thời điểm năm 1991 ông R1 giữ chức vụ: Trưởng Công an xã P, do ông là Trưởng Công an xã nên ngày 10/5/1991 ông H1 và ông H3 nhờ ông chứng kiến việc ông H1 lập khế ước gửi cho cháu là ông H3 giữ giùm nhà đất ở địa chỉ số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nhà đất tại vị trí hiện nay các bên đang tranh chấp là thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn và một căn nhà tường gắn liền với đất. Ông R1 xác định chữ ký tại tờ khế ước ngày 10/5/1991 do bên ông H1 cung cấp là của ông. Tại thời điểm đó ông R1 là Công an quản lý địa bàn biết ông H1 gửi cho ông H3 quản lý giùm nhà đất... Trong thời gian ông công tác ông H1 định cư nước ngoài về thăm quê hương có tạm trú ở tại căn nhà số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long trước đây ông H1 gửi cho ông H3 giữ giùm. Sau khi ông H3 chết mới xảy ra tranh chấp.

- Tại Biên bản xác minh ngày 10/3/2025 (BL 364-365) ông Trần Thanh L1 xác định: Ngày 10/5/1991 ông có chứng kiến việc ông H1 lập khế ước gửi cho cháu là ông H3 giữ giùm nhà đất ở địa chỉ số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Ông L1 xác định chữ ký tại tờ khế ước ngày 10/5/1991 là của ông. Ông H1 chỉ gửi cho ông H3 giữ nhà đất giùm chứ không có tặng cho. Ông là người hàng xóm với ông H1 trước đây nên ông biết sự việc. Khi ông H1 sang Hoa Kỳ định cư các vật dụng bàn thờ tổ tiên trong nhà để lại cho ông H3 đốt nhang thờ cúng. Mỗi lần ông H1 ở nước ngoài về thăm quê hương có ở tại căn nhà số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long trước đây ông H1 gửi cho ông H3 giữ giùm. Sau khi ông H3 chết mới xảy ra tranh chấp.

- Tại các biên bản ghi lời khai bị đơn có trong hồ sơ vụ án, bị đơn và vợ của bị đơn đều thừa nhận nhà đất ở địa chỉ số C, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long các bên đang tranh chấp hiện là thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn và một căn nhà tường gắn liền với đất là của nguyên đơn ông H1, bà N. Tại Vlog Khám phá V của Youtuber Thanh Vĩnh L2 do nguyên đơn cung cấp, có vi bằng ngày 20/6/2025 xác thực của Thừa phát lại, có hình ảnh và lời nói của bà Lưu Hòa A (mẹ của ông Đ) thừa nhận nhà, đất là của nguyên đơn, mỗi lần ông H1, bà N về Việt Nam thì vẫn đưa chìa khóa cho ông H1, bà N vào thăm nhà, đốt nhang bàn thờ, tất cả đồ đạc, vật dụng, bàn thờ vẫn còn nguyên.

Với các tình tiết và lời khai của các nhân chứng trên đây cho thấy, tuy tờ Khế ước gửi giữ nhà ngày 10/5/1991 không hợp lệ về địa chỉ tên tỉnh Vĩnh Long, không đúng về năm sinh của ông H3 1952 (1951), nhưng có thể xác định nhà đất tại vị trí hiện nay các bên đang tranh chấp thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m² và một căn nhà gắn liền với đất là của nguyên đơn ông H1, bà N trước khi vợ chồng ông H1, bà N sang Hoa Kỳ định cư.

[3] Từ các chứng cứ nêu trên cho thấy việc bị đơn quản lý, sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và đất ở là không hợp pháp, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về công nhận thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn ông H1, bà N; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành DE 817218 do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V ký cấp ngày 17/5/2022 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản trên đất tranh chấp và công sức quản lý, tôn tạo, giữ gìn và sửa chữa nhà đất tranh chấp:

[4.1] Tại Biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024 giữa nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất thỏa thuận: Giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường 16.900.000đ (Mười sáu triệu, chín trăm nghìn đồng)/1m². Giá trị tổng cộng căn nhà và các công trình phụ gắn liền với đất là: 521.259.843đ (Năm trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm bốn mươi ba đồng) (trong 521.259.843đ có giá trị còn lại căn nhà của ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N là 100.000.000đ và giá trị còn lại của phần sửa chữa tất cả các hạng mục công trình nhà và các công trình trên đất sau khi ông H1, bà N đi nước ngoài là 421.259.843đ. Việc thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật nên căn cứ vào giá do các đương sự thỏa thuận để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.

[4.2] Phần sửa chữa tất cả các hạng mục công trình của căn nhà và các công trình trên đất sau khi ông H1, bà N đi nước ngoài còn lại giá trị là 421.259.843đ. Tại phiên tòa sơ thẩm, phía ông H1, bà N cho rằng toàn bộ số tiền này do vợ chồng ông H1, bà N bỏ ra sửa chữa nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định gia đình ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M bỏ ra chi phí sửa chữa có giá trị còn lại là 421.259.843đ. Từ đó, buộc ông H1, bà N có nghĩa vụ trả giá trị sửa chữa cho gia đình ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M số tiền 421.259.843đ là có cơ sở.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp các phiếu chuyển tiền có nội dung “FOR HOME REPAIRS”, nghĩa là “sửa chữa nhà” (tuy nhiên, các biên lại cung cấp ở giai đoạn phúc thẩm và nguyên đơn không kháng cáo) cho bị đơn nhận tổng số tiền là 22.900USD. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn mặc dù không có kháng cáo nhưng cung cấp các phiếu chuyển tiền không có chứng thực, hợp thức hóa lãnh sự, chưa được xem xét đánh giá tại cấp sơ thẩm, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận các chứng cứ này. Trường hợp nguyên đơn thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện vụ án khác để đòi lại chi phí này.

[5] Gia đình ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Từ Định H3 có công sức quản lý, giữ gìn tài sản nhà, đất. Nên Tòa án cấp sơ thẩm thống nhất buộc vợ chồng ông H1, bà N phải có nghĩa vụ trả cho gia đình ông Đ, bà Hòa A, bà H2 và bà M 30% giá trị nhà đất được tính ra thành tiền như sau: [(16.900.000đ/1m² x 131,4m²) + 100.000.000đ giá trị còn lại căn nhà] x30% = 696.198.000₫ là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy tổng giá trị tài sản là nhà, đất tranh chấp là 2.741.919.843 đồng, bản án sơ thẩm tuyên công nhận nhà đất cho nguyên đơn, buộc nguyên đơn trả cho bị đơn công sức giữ gìn, tôn tạo, sữa chữa nhà với số tiền 1.117.457.843 đồng (gần ½ giá trị tài sản) là hợp tình hợp lý, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[6] Do yêu cầu trả thửa đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành DE 817218, số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ONT, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và căn nhà trên đất của nguyên đơn được chấp nhận, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông Đ, bà Hòa A, bà M, bà H2 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H3 liên đới trả cho vợ chồng ông H1, bà N thửa đất nói trên theo kết quả đo đạc ngày 03/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V là không vượt quá phạm vi khởi kiện, đúng pháp luật.

Cho ông Đ, bà Hòa A và bà C được lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn lưu cư trên mà ông Đ, bà Hòa A và bà C không di dời toàn bộ tài sản của ông Đ, bà Hòa A và bà C ra khỏi thửa đất số 55 để trả lại nhà, đất tại thửa số 55 cho ông H1, bà N. Mặt khác, nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N được quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở theo quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành là có căn cứ, đúng pháp luật.

[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự kháng cáo nhưng không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì mới làm thay đổi bản chất vụ án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Từ Quốc Đ; chấp nhận một phần kháng nghị, sửa phần án phí sơ thẩm có giá ngạch theo hướng buộc nguyên đơn phải chịu án phí vì là công dân nước ngoài.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, gồm chi phí giám định, chi phí đo đạc và định giá tài sản... không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[9] Về án phí dân sự:

Ông H1, bà N là người có quốc tịch nước ngoài nên không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị, buộc ông H1, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 69.523.735 đồng.

Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên buộc bị đơn ông Từ Quốc Đ phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Từ Quốc Đ.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với việc nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N rút khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 55 (thửa cũ 276), tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 10/8/2021.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N.

2.1/. Vô hiệu “Giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực vào ngày 23/5/1991 và Vô hiệu “Tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991” được nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P là ông Bùi Văn H4 chứng thực vào ngày 25/5/1991.

2.2/. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số phát hành DE 817218, tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (ONT), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do ông Từ Quốc Đ đứng tên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V ký cấp ngày 17/5/2022.

2.3/. Công nhận thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (ONT), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long gắn liền với nhà và tài sản trên đất là: Nhà chính (diện tích xây dựng 58,95m². Tổng diện tích sàn 117,9m²), nhà bếp + khu vệ sinh (diện tích 40,95m²) và sân phơi phía sau khu nhà bếp (diện tích 31,5m²) theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 và theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024. Là thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N.

2.4/. Buộc ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú M, bà Từ Tú H2 và bà Lê Diệp Xuân C (vợ ông Đ) liên đới trả cho vợ chồng ông Trần Thanh H1, bà Huỳnh Sở N thửa đất số 55, tờ bản đồ số 26, diện tích 131,4m², mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn (ONT), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long gắn liền với nhà và tài sản trên đất là: Nhà chính (diện tích xây dựng 58,95m². Tổng diện tích sàn 117,9m²), nhà bếp + khu vệ sinh (diện tích 40,95m²) và sân phơi phía sau khu nhà bếp (diện tích 31,5m²) theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 và theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024.

2.5/. Buộc ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A và bà Lê Diệp Xuân C di dời toàn bộ tài sản của ông Đ, bà Hòa A và bà C ra khỏi thửa đất số 55 để trả lại nhà, đất tại thửa số 55 cho ông Trần Thanh H1, bà Huỳnh Sở N.

2.6/. Cho ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A và bà Lê Diệp Xuân C được lưu cư trong thời hạn 06 (Sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn trên mà ông Đ, bà Hòa A và bà C không di dời toàn bộ tài sản của ông Đ, bà Hòa A và bà C đi ra khỏi thửa đất số 55 để trả lại nhà, đất tại thửa số 55 cho ông H1, bà N. Thì ông H1, bà N có quyền yêu cầu cưỡng chế thi hành án.

2.7/. Ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N được quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở theo quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014.

2.8/. Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V lập ngày 03/5/2024 và theo biên bản khảo sát, đo đạc và định giá tài sản ngày 12/4/2024.

  1. Buộc ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N liên đới trả cho ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M giá trị phần sửa chữa là 421.259.843đ (Bốn trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm bốn mươi ba đồng).
  2. Buộc ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N liên đới trả công sức, giữ gìn, quản lý thửa đất số 55 và căn nhà trên đất cho ông Từ Quốc Đ, bà Lưu Hòa A, bà Từ Tú H2 và bà Từ Tú M bằng 30% giá trị thửa đất và căn nhà trên đất là 696.198.000₫ (Sáu trăm chín mươi sáu triệu, một trăm chín mươi tám nghìn đồng).
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí dân sự:

- Án phí sơ thẩm:

Buộc ông Từ Quốc Đ phải nộp án phí không có giá ngạch 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Buộc ông Từ Quốc Đ phải nộp án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu của ông H1, bà N được chấp nhận vô hiệu giấy cho đứt nhà ngày 06/5/1991 và vô hiệu tờ đồng ý cho đứt nhà ngày 27/5/1991 là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).

Buộc ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 69.523.735 đồng (Sáu mươi chín triệu, năm trăm hai mươi ba nghìn, bảy trăm ba mươi lăm đồng). Ông Trần Thanh H1 và bà Huỳnh Sở N đã nộp 13.483.000₫ (Mười ba triệu, bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng) nên còn phải tiếp tục nộp thêm 56.040.735 đồng (Năm mươi sáu triệu, không trăm bốn mươi nghìn, bảy trăm ba mươi lăm đồng).

- Án phí phúc thẩm: Buộc ông Từ Quốc Đ phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015406 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - Đương sự;
  • - Lưu (Án - Trúc).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Minh

CÁC THẨM PHÁN

Lê Hoàng Tấn

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Hồng

Nguyễn Đắc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 54/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger