|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 53/2026/HC-PT Ngày 21/01/2026 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Công
Bà Trần Thị Hoà Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/01/2026, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 149/2025/TLPT-HC ngày 06/10/2025 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 94/2025/HC-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận (nay là Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3805/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Trần Văn C, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã S, tỉnh Lâm Đồng); có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Bà Phan Thị Thanh H, sinh năm 1978 ; nơi cư trú: Căn hộ T1-B33.04 Khu nhà ở cao tầng và kết hợp thương mại dịch vụ, A V, khu phố F, phường A, Tp Hồ Chí Minh; có mặt. (Theo Giấy ủy quyền công chứng số 00271/2026/CCGD ngày 16/01/2026).
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân dân tỉnh B.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân tỉnh L; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh L.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh L.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T – Giám đốc (đơn xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Công T1 – Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L; (đơn xét xử vắng mặt)
- Công ty Cổ phần T2. Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã S, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền:
- - Bà Nguyễn Thị P; chức vụ: Trưởng phòng Pháp chế, Công ty Cổ phần T2, có mặt.
- - Bà Lý Lệ Q; chức vụ : Chuyên viên Công ty Cổ phần T2, có mặt.
Địa chỉ liên hệ: Tầng B, Trung tâm thương mại, căn 1.01 chung cư số A N, Phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị C1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã S, tỉnh Lâm Đồng); có mặt.
- Ngân hàng TMCP P2 (H2). Địa chỉ: B Bis N, phường B, quận A, TP .
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh D, chức vụ: Trưởng bộ phận quan hệ khách hàng Doanh nghiệp - Ngân hàng TMCP P2, chi nhánh G; có mặt.
- Người kháng cáo: Công ty Cổ phần T2 và Ngân hàng TMCP P2 (H2) là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 08/9/2020 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng người khởi kiện ông Trần Văn C trình bày:
Gia đình ông có một thửa đất diện tích 1.000m², thuộc thửa đất số 163, tờ bản đồ số 02, thời hạn sử dụng đến năm 2015, tọa lạc tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Nguồn gốc là do gia đình ông nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn H1 vào năm 2013, khi đó ông H1 đã có Giấy chứng nhận số C 0964802 do UBND huyện H cấp ngày 10/01/1996. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông xin cấp đổi lại và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 550626, ngày 04/5/2013. Do thời hạn sử dụng đất ghi trong giấy chứng nhận đã hết, nên ông làm hồ sơ gửi UBND xã T xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Sau đó UBND xã T xác minh và có Thông báo số 29/TB-UBND, ngày 16/6/2020 về việc trả lời đơn thì ông mới biết có sự chồng lấn giữa Giấy chứng nhận đã cấp cho vợ chồng ông với Giấy chứng nhận đã cấp cho Công ty T2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 929874, ngày 23/9/2010.
Ông yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 929874, ngày 23/9/2010 do Ủy ban nhân dân tỉnh B ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho Công ty cổ phần T2, vì chồng lấn vào đất của gia đình ông đã có Giấy chứng nhận từ năm 1996 trước khi ông nhận chuyển nhượng vào năm 2013.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh B: Tại Văn bản số 2093/UBND-NCKSTTHC, ngày 11/6/2021 ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có ý kiến về vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B tại văn bản số 1015/STNMT-CCQLĐĐ, ngày 16/3/2023 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng trình bày:
Dự án Khu du lịch sinh thái biển cao cấp L của Công ty Cổ phần T2 tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận được UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 48121000123 ngày 15/01/2008 với diện tích 73 ha, mục tiêu dự án: Đầu tư xây dựng và kinh doanh tổ hợp khu du lịch sinh thái biển cao cấp kết hợp nghỉ dưỡng. Căn cứ chủ trương đầu tư nêu trên, Công ty Cổ phần T2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân trong vùng dự án, với diện tích 24.645,7m², trong đó có phần diện tích 8.992,1m² (phần được cấp Giấy chứng nhận). Ngày 23/12/2009, UBND tỉnh B đã ban hành Quyết định số 3690/QĐ-UBND cho Công ty Cổ phần T2 chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư Khu du lịch tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận với diện tích 24.645,7m² và cấp Giấy chứng nhận số BB 929874 cấp ngày 23/9/2010 với diện tích 8.992,1m². Nguồn gốc của phần diện tích 24.645,7m² do Công ty Cổ phần T2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ dân nên phần diện tích 8.992,1m² cũng được Công ty Cổ phần T2 nhận chuyển nhượng từ các hộ gia đình, cá nhân. UBND tỉnh B cho phép Công ty chuyển mục đích sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 929874 là phù hợp với chủ trương được duyệt. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T2 đại diện trình bày:
Phần diện tích mà ông Trần Văn C khởi kiện là do Công ty mua của bà Nguyễn Thị X, Công ty đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông Trần Văn C khởi kiện cho rằng đất Công ty được cấp giấy bị chồng lấn vào đất gia đình ông C thì Công ty cũng không rõ. Diện tích đất ông Trần Văn C tranh chấp, Công ty đã mua của bà Nguyễn Thị X và Công ty đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp Giấy chứng nhận cho bà X và của Công ty được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nên Công ty đề nghị hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C1 do ông Trần Xuân A đại diện trình bày: Thống nhất với lời khai và yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP P2: Đã được Tòa án gửi thông báo xác lập tư cách tham gia tố tụng, Thông báo về phiên tiếp cận, công khai giao nộp chứng cứ và đối thoại hai lần, nhưng đều vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 94/2025/HC-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận (nay là Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng) đã quyết định.
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C;
1. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 929874, ngày 23/9/2010 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B được Ủy ban nhân dân tỉnh B ủy quyền cấp cho Công ty Cổ phần T2 đối với diện tích đất chồng lấn 257 m² giữa hai giấy chứng nhận đã cấp cho người khởi kiện và cho Công ty T2, theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận kèm theo.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 28 và 29/5/2025 Công ty Cổ phần T2 và Ngân hàng TMCP P2 (H2) là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của ông C.
Đại diện cho Công ty T2 trình bày: Bà X là người chuyển nhượng đất cho Công ty T2 nhưng không được đưa bà X vào tham gia tố tụng; việc UBND huyện H GCNQSDĐ cho bà X đúng pháp luật; diện tích đất tranh chấp chưa xác định được 257m² hay là 260m² nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã huỷ giấy phần 257m² là chưa đúng pháp luật. Đất cấp giấy cho Công ty T2 là đất thực hiện dự án kinh doanh, còn đất ông C là đất nông nghiệp nên có cơ sở ông C lấn chiếm đất của Công ty T2. Đến nay, chưa có căn cứ đất hai bên bị chồng lấn; đất cấp cho bà X đúng trình tự, thủ tục, đúng pháp luật nên bà X chuyển nhượng cho Công ty T2; Toà án cấp sơ thẩm không xem xét việc Công ty T2 thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất ngay tình, hợp pháp. Đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty T2, sửa bản án sơ thẩm buộc ông C giao trả 257m² đất tranh chấp cho Công ty T2 và huỷ giấy đã cấp cho ông C.
Đại diện cho Ngân hàng H2 trình bày: Nhất trí với lời trình bày của Công ty T2; đề nghị sửa bản án sơ thẩm bảo vệ quyền lợi cho Ngân hàng.
Người đại diện theo ủy quyền ông C trình bày: Nguồn gốc đất của ông C do ông Nguyễn Quốc P1 khai phá sử dụng trước năm 1996; đến ngày 10/01/1996 UBND huyện H cấp giấy cho ông P1; đất ông Câm nhận chuyển nhượng lại có mốc giới hàng rào ổn định từ khi mua đến nay không thay đổi nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ; đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng, các bên đương sự thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung kháng cáo của Công ty T2 và Ngân hàng H2: Nguồn gốc đất của ông C do ông P1 khai phá, quản lý, sử dụng. Đến năm 1996, UBND huyện H cấp giấy và năm 2007 ông Phong tặng cho toàn bộ đất cho con là ông H1 và bà O. Năm 2013, ông H1, bà O chuyển nhượng cho ông C quản lý, sử dụng đến nay. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp. Công ty Cổ phần T2 và Ngân hàng TMCP P2 (H2) là người kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, đề nghị bác đơn kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần T2 và Ngân hàng TMCP P2 (H2) đúng quy định của pháp luật, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Người bị kiện vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt họ.
[3]. Xét kháng cáo của Công ty Cổ phần T2 và Ngân hàng TMCP P2 (H2):
[3.1]. Nguồn gốc diện tích 1.000m², thửa số 163, tờ bản đồ số 2, tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận của ông Nguyễn Quốc P1 khai phá quản lý, sử dụng; đến ngày 10/01/1996, ông Nguyễn Quốc P1 được UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy CNQSDĐ. Ngày 02/10/2007, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện H cập nhật sang tên thửa đất trên cho con là ông Trần Văn H1, bà Đặng Thị O. Đến ngày 27/01/2013 ông H1, bà O chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trần Văn C, bà Trần Thị C1 và ngày 04/5/2013, UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 550626 cho ông Trần Văn C, bà Trần Thị C1.
[3.2]. Theo hồ sơ xin cấp Giấy CNQSDĐ ngày 01/8/2009 của bà Nguyễn Thị X khai nguồn gốc đất do cha mẹ cho năm 1991 theo “Giấy ký nhận cha mẹ cho con đất và sự đồng thuận của anh em ruột” nhưng trong hồ sơ không có giấy cho đất của cha mẹ. Đến ngày 19/11/2009, bà Nguyễn Thị X được UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp 06 Giấy CNQSDĐ đối 06 thửa đất số: 01, 02, 05, 76, 77 và 79, đều thuộc tờ bản đồ số 01, tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau khi cấp giấy được 01 ngày là ngày 20/11/2009 bà Nguyễn Thị X chuyển nhượng toàn bộ 06 thửa đất trên cho Công ty T2. Ngày 23/9/2010, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 929874, diện tích 8.992,1m² cho Công ty T2.
[3.3]. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/3/2023 của Tòa án tỉnh Bình Thuận thể hiện: Toàn bộ diện tích đất Công ty T2 nhận chuyển nhượng của bà X là đất trống. Diện tích đất ông C, bà C1 nhận chuyển nhượng của ông H1, bà O được rào trụ bê tông, kẽm gai và trồng cây keo lá tràm diện tích 1.000m². Nên có cơ sở ông C, bà C1 là người quản lý sử dụng ổn định diện tích 1.000m², thửa số 163, tờ bản đồ số 2, tại thôn H, xã T, huyện Bình Thuận có nguồn gốc của ông Nguyễn Quốc P1 khai phá quản lý, sử dụng và được UBND huyện H cấp Giấy CNQSDĐ cho ông P1 từ năm 1996.
[3.4]. Tại Mảnh trích đo hiện trạng đất của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận lập ngày 02/10/2023 thể hiện: Diện tích 1.000m² đất ông C đang quản lý, sử dụng có 257m² đất nằm trong ranh (chồng lấn) dự án L của Công ty T2. Theo tài liệu giải quyết tranh chấp đất đai của UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận đã xác minh và xác định: Diện tích đất mà ông C tranh chấp với Công ty T2 là thửa đất số 163, tờ bản đồ số 02, thuộc Giấy chứng nhận số BO 550626 ngày 04/5/2013 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận đã cấp cho ông C, bà C1.
[3.5]. Từ những tài liệu, chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định Giấy CNQSDĐ cấp cho ông C có nguồn gốc do ông Nguyễn Quốc P1 khai hoang và được cấp giấy lần đầu vào năm 1996; Giấy CNQSDĐ cấp cho Công ty T2 có nguồn gốc cấp cho bà X lần đầu vào năm 2009, sau khi cấp giấy cho ông P1 13 năm, đất bà X khai do cha mẹ cho nhưng hồ sơ xin cấp giấy không có tài liệu này và đặc biệt khi cấp giấy cho bà X, thực tế gia đình bà X không phải là người quản lý, sử dụng đất. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số AM 188018, ngày 19/11/2009 đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 01, diện tích 3.480,5m² cho bà X, trong đó có diện tích đất bị chồng lấn 257m² là không đúng trình tự, thủ tục là có cơ sở. Bà X đã chuyển nhượng toàn bộ đất được cấp giấy cho Công ty T2, trong đó có 257m² đất chồng lấn sang giấy được cấp cho ông C, nên tuyên huỷ một phần giấy CNQSDĐ của Công ty T2 đối với diện tích 257m² là phù hợp.
[4]. Từ những phân tích trên, Công ty T2 và Ngân hàng H2 là người kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo và lời trình bày của người đại diện cho người kháng cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Bác đơn kháng cáo của Công ty T2 và Ngân hàng H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên Công ty T2 và Ngân hàng H2 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần T2 và Ngân hàng TMCP P2 (H2); giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 94/2025/HC-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận (nay là Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng) như sau:
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 2 và khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 2 Điều 32, khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C.
1. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 929874, ngày 23/9/2010 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L) được Ủy ban nhân dân tỉnh B (nay là Ủy ban nhân dân tỉnh L) ủy quyền cấp cho Công ty Cổ phần T2 đối với diện tích đất chồng lấn 257m², theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận kèm theo.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm và chi phí tố tụng:
- Ông Trần Văn C không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Văn C 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008084, ngày 17/5/2021 của Chi hành án Dân sự tỉnh Bình Thuận.
- Ủy ban nhân dân tỉnh B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
- Ủy ban nhân dân tỉnh B phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc để trả lại cho ông Trần Văn C.
II. Án phí hành chính phúc thẩm:
- Công ty Cổ phần T2 phải chịu 300.000 đồng; khấu trừ 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000776 ngày 04/6/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Thuận (Nay là Chi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng).
- Ngân hàng TMCP P2 (H2) phải chịu 300.000 đồng; khấu trừ 300.000 đồng theo Ủy nhiệm chi số GD 1722590442286 ngày 15/07/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (do ông Trần Thanh D nộp).
III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Văn Ý |
Bản án số 53/2026/HC-PT ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 53/2026/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/01/2026
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn C kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận 2025 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Tuyên xử Không chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Danh V và Ngân hàng T; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 94/2025/HC-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận (nay là Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng)
