Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/11/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Phương.

Các hội thẩm nhân dân.

  • 1. Bà Hoàng Thị Phụng
  • 2. Bà Nguyễn Ngọc Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1997
  • - Bị đơn: Anh Kiều Đức M, sinh năm 1995
  • Cùng cư trú tại địa chỉ: thôn T, xã V, tỉnh Hưng Yên.
  • (Chị N, anh M đều xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Trần Thị N trình bày:

Chị và anh Kiều Đức M tự nguyện tìm hiểu, cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 08/11/2018. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong mọi việc nên thường xảy ra cãi vã, căng thẳng. Chị và anh M đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Anh, chị đã sống ly thân từ tháng 8/2025 đến nay, không ai quan tâm đến ai, mỗi bên tự lo liệu cuộc sống riêng. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị và anh Kiều Đức M có 02 con chung là Kiều Trần Đức M1, sinh ngày 21/01/2020 và Kiều Trần Đức N1, sinh ngày 12/10/2023. Ly hôn, để đảm bảo sự ổn định cuộc sống cho các con chị đề nghị Tòa án giao 02 con cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 2.000.000đồng/tháng đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị và anh M tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chị N có đơn đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt chị và chị vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại bản tự khai.

* Tại Bản tự khai, bị đơn - anh Kiều Đức M trình bày:

Anh và chị Trần Thị N tự nguyện tìm hiểu, cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 08/11/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 8/2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh và chị N đã nhiều lần ngồi lại cùng nói chuyện và cũng được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, chị N xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung là Kiều Trần Đức M1, sinh ngày 21/01/2020 và Kiều Trần Đức N1, sinh ngày 12/10/2023. Ly hôn, chị N đề nghị Tòa án giao 02 con cho anh nuôi dưỡng, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 2.000.000đồng/tháng đến khi các con đủ 18 tuổi, anh nhất trí. Anh làm việc tại Công ty Ô, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000 đồng/tháng; anh có chỗ ở ổn định, có bố mẹ đẻ phụ giúp trong việc chăm sóc con, có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung: Anh và chị N tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh M đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt anh và anh vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại bản tự khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Trần Thị N khởi kiện xin ly hôn với anh Kiều Đức M, cư trú tại thôn T, xã V, tỉnh Hưng Yên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

[1.2] Chị Trần Thị N và anh Kiều Đức M đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh, chị. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[1.3] Do các đương sự đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, Tòa án không tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị N và anh Kiều Đức M được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh, chị đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, căng thẳng. Chị N, anh M đã sống ly thân từ tháng 8/2025 đến nay, không ai quan tâm đến ai, mỗi người tự lo liệu cuộc sống riêng. Chị N xin ly hôn, anh M đồng ý ly hôn, điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần xử cho chị Trần Thị N, anh Kiều Đức M thuận tình ly hôn là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị N, anh Kiều Đức M có 02 con chung là Kiều Trần Đức M1, sinh ngày 21/01/2020 và Kiều Trần Đức N1, sinh ngày 12/10/2023. Ly hôn, chị N, anh M thống nhất: giao 02 con Kiều Trần Đức M1 và Kiều Trần Đức N1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng; chị N có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 2.000.000đồng/tháng đến khi các con đủ 18 tuổi.

[2.3] Về tài sản: Chị Trần Thị N, anh Kiều Đức M tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: Do chị N, anh M thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm nên căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao anh chị phải chịu 50% mức án phí theo quy định; chị N tự nguyện chịu cả án phí ly hôn và phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị N, anh Kiều Đức M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại tòa án Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị N, anh Kiều Đức M thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cho anh Kiều Đức M trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Kiều Trần Đức M1, sinh ngày 21/01/2020 và Kiều Trần Đức N1, sinh ngày 12/10/2023. Chị Trần Thị N có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng; thời gian cấp dưỡng từ tháng 11 năm 2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

    Chị Trần Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Chị N, anh M có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị N tự nguyện chịu cả 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải chịu 150.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001960 ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên sang thi hành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị N, anh Kiều Đức M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 5 – Hưng Yên;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu: HCTP; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ Trần Thị N - Kiều Đức M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger