Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2026/DS-PT

Ngày: 27 - 01 - 2026

V/v “Tranh chấp lối đi chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr;

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và ông Nguyễn Văn Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Lương Thị Diệu Anh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31/12/2025 và 27/01/2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 380/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp lối đi chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 11/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 343/2025/QĐ-PT ngày 12/11/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Vợ chồng ông Lê Tự V, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1963; Địa chỉ: B N, phường H, Tp ., Phú Yên (Nay là số B N, phường T, tỉnh Đắk Lắk), đều vắng mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Thái Thanh T, sinh năm 1973; địa chỉ: H L, phường T, tỉnh Đắk Lắk và ông Ngô Thanh S, sinh năm 1989; địa chỉ: D T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh, đều có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Huỳnh Bảo Q, sinh năm 1976; Địa chỉ: 2 L, phường C, thành phố T, Phú Yên (Nay là số B L, phường T, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1981; Địa chỉ: 2 L, phường C, Tp., Phú Yên (Nay là số B L, phường T, tỉnh Đắk Lắk), vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng ông V, bà N có thửa đất số 136, tờ bản đồ số: D4-III-D-a, tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên, được UBND thành phố T (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB724333, số vào sổ cấp GCN: CH00617, cấp ngày 16/11/2015.

Từ trước đến nay, ông V, bà N sử dụng chung lối đi với nhà của bị đơn ông Huỳnh Bảo Q để đi ra đường công cộng. Tuy nhiên, gần đây ông Q xây dựng tường rào chặn lại khiến ông V, bà N không thể ra vào thửa đất của ông V, bà N được. Ông V, bà N đã gặp ông Q thương lượng và đề nghị ông Q không rào chắn để ông V, bà N có thể vào nhà nhưng ông Q không chấp nhận. Hiện nay, gia đình ông V, bà N không có lối đi nào để ra đường công cộng, ảnh hưởng đến cuộc sống và việc sử dụng đất của gia đình ông V, bà N.

Vì vậy, nay đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Bảo Q mở cho ông V, bà N một lối đi trên thửa đất của ông Q tại 2 L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) từ đường công cộng vào thửa đất số 136, tờ bản đồ số D4-III-D-a của ông V, bà N.

* Bị đơn ông Huỳnh Bảo Q trình bày:

1. Nguồn gốc vị trí lô đất có địa chỉ tại 2 L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) trước đây là của vợ chồng ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N được xác định tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số D4-III-D-a, diện tích 166,28m² được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC856977 ngày 07/8/2006 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 545552202700527 ngày 12/9/2006.

Chấp hành Bản án số 09/2015/KDTM-ST ngày 07/8/2015 của TAND thành phố Tuy Hòa về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng mua bán nhà” đã có hiệu lực pháp luật. Thửa đất trên được ông V và bà N làm thủ tục tách thửa đối với lô đất trên thành 02 thửa, cụ thể:

- Đối với phần đất có diện tích 61,44m², vợ chồng ông V bà N đã làm thủ tục tách thửa thành thửa đất số 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a, tiếp giáp với đường hẻm Lê Thánh T2, được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB724332 ngày 16/11/2015. Phần đất này ông V bà N đã chuyển nhượng cho cha mẹ ông Q là ông Huỳnh Như P, sinh năm 1951 và bà Phạm Thị T3, sinh năm 1955, trú tại D L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên và được cấp đối Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB676768 ngày 16/12/2015; đồng thời UBND thành phố T cấp số nhà B L, phường C, thành phố T cho riêng thửa đất số 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a theo

2

Giấy cung cấp và chứng nhận số nhà số 189/CN-UBND ngày 15/01/2016. Đến ngày 04/3/2019, cha mẹ ông Q đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông Q, bà T1 và đã được Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số CN996455 ngày 21/3/2019.

Về trình tự, thủ tục tách thửa, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a tại địa chỉ 2 L, phường C, thành phố T hiện nay do vợ chồng ông Q đang quản lý, sử dụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật về đất đai, sử dụng lối đi hẻm Lê Thánh T2 (theo nội dung Báo cáo số 523/BC-TN&MT ngày 28/10/2015 và số 42/BC-TN&MT ngày 29/01/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T). Căn nhà trên thửa đất này có vị trí độc lập, không có gắn kết hay thỏa thuận gì khác về việc tạo lối đi chung với bất kỳ thửa đất nào khác.

Tháng 3/2021, ông Q thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật về xây dựng nhà ở tại vị trí thửa đất nói trên, được UBND thành phố T phê duyệt hồ sơ thiết kế, bản vẽ thi công và cấp giấy phép xây dựng số 58/GPXD ngày 02/3/2021. Công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng cho đến nay.

Thửa đất thứ hai có diện tích 104,84m², vợ chồng ông V bà N đã làm thủ tục tách thửa thành thửa đất số 136, tờ bản đồ số D4-III-D-a (tiếp giáp với nhà số D L, phường C, thành phố T), được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB724333 ngày 16/11/2015. Theo Hợp đồng chuyển nhượng hiện ông Q đang lưu giữ thể hiện ngày 16/11/2015 vợ chồng ông V bà N chuyển nhượng thửa đất này cho ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1959, trú tại A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Tại Hợp đồng chuyển nhượng (đã được công chứng) này, mục ghi chú thể hiện rõ: Thửa đất số 136 được tách ra để chuyển nhượng và hợp vào thửa 37 (tức là thửa đất có số nhà D L, phường C, thành phố T do ông Diệp Tư C, sinh năm 1975 chủ sở hữu, được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA709553 ngày 20/9/2011) để có lối đi chung với nhà số D L của ông C.

Căn cứ kết quả điều tra thể hiện tại Bản kết luận điều tra số 72/CSĐT-KT ngày 21/8/2014 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T thì thửa đất thứ 2 này vợ chồng ông V, bà N đã bán cho ông C từ tháng 11/2010. Sau đó ông C đã tự xây dựng nhà liên kết với nhà ở số D L thành một ngôi nhà có diện tích hơn 200m² (Bao gồm phần diện tích nhà của ông C tại 46 L và phần diện tích thửa đất số 136 tờ bản đồ số D4-III-D-a đã mua của ông V bà N vì 02 thửa đất tiếp giáp liền kề nhau).

3

Căn cứ biên bản, sơ đồ hiện trạng ngày 14/4/2015 do Hội đồng định giá của TAND thành phố Tuy Hòa quyết định thành lập gồm: Phòng Q1, Phòng T4, Phòng T5, UBND phường C1 đều xác định thửa đất của ông V bà N được tách thành 02 thửa đất: Một thửa có mặt tiếp giáp với nhà số D L, phường C, thành phố T và một thửa có mặt tiếp giáp với đường hẻm Lê Thánh T2 (không có lối đi chung). Do vậy, thửa đất số 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a hiện do ông Q quản lý được tách thành thửa đất độc lập theo hồ sơ địa chính là đúng quy định pháp luật về đất đai.

Sau khi chuyển nhượng 02 thửa đất cho vợ chồng ông Q và ông C, từ năm 2010, ông V, bà N chuyển đến sinh sống tại địa chỉ B N, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Như vậy, số nhà B L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (cũ) là số nhà sở hữu riêng của vợ chồng ông Q được pháp luật công nhận. Do đó, vợ chồng ông V bà N không có tư cách đứng đơn khởi kiện với nội dung là cùng địa chỉ 2 L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

2. Việc ông V bà N có đơn khởi kiện yêu cầu ông Q mở một lối đi trên thửa đất của ông tại số B L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên từ đường công cộng vào thửa đất số 136, tờ bản đồ số D4-III-D-a của ông V, bà N là không có căn cứ theo quy định pháp luật.

Bằng các tài liệu gửi kèm trong quá trình tham gia giải quyết các đơn khiếu kiện, tố cáo của ông V, bà N đối với ông Q. Căn cứ Điều 72, 91 và 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ông Q gửi đơn yêu cầu phản tố toàn bộ các nội dung mà ông V bà N đã gửi đơn khiếu kiện liên quan đến ông Q theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ông Q đề nghị quý cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận yêu cầu phản tố, áp dụng Điều 200 BLTTDS để giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Q xin rút toàn bộ yêu cầu liên quan đến việc ông yêu cầu phản tố nêu trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 trình bày: Bà T1 thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Q, không có ý kiến gì thêm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 11/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk đã quyết định:

Áp dụng các Điều 166, 171 của Luật đất đai năm 2013; Điều 245, 246, 247, 248, 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề đối với thửa đất 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a tại địa chỉ số B L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú

4

Yên (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) của vợ chồng ông Q, bà T1, vì không có căn cứ.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quy định về quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 15/8/2025, nguyên đơn ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

- Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N không có cơ sở pháp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST ngày 11/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo là hợp lệ nên cần xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn khởi kiện và kháng cáo yêu cầu bị đơn phải mở lối đi vào thửa đất số 136, tờ bản đồ số D4-III-D-a của ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N tại địa chỉ số B L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) là thửa đất số 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a của ông Huỳnh Bảo Q và bà Lê Thị T1, thấy rằng:

- Nguồn gốc đất có diện tích 61,44m² mà hiện nay ông Q, bà T1 đang sử dụng là do vợ chồng ông V, bà N đã làm thủ tục tách từ thửa số 57, tờ bản đồ số D4-III-D-a, tiếp giáp với đường hẻm Lê Thánh T2, được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền

5

với đất số CB724332 ngày 16/11/2015. Phần đất này ông V, bà N đã chuyển nhượng cho cha mẹ ông Q là ông Huỳnh Như P và bà Phạm Thị T3, trú tại D L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên, được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB676768 ngày 16/12/2015; đồng thời UBND thành phố T cấp số nhà B L, phường C, thành phố T cho riêng thửa đất số 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a theo Giấy cung cấp và chứng nhận số nhà số 189/CN-UBND ngày 15/01/2016. Đến ngày 04/3/2019, cha mẹ ông Q đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông Q, bà T1 và đã được Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN996455 ngày 21/3/2019.

- Phần diện tích đất còn lại sau khi tách ra là 104,84m² thuộc thửa 136, tờ bản đồ số D4-III-D-a và được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB724333 ngày 16/11/2015 cho vợ chồng ông V, bà N. Tại phần ghi chú của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi: “Thửa đất số 136 được tách ra để chuyển nhượng và hợp vào thửa 37”. Đến ngày 24/11/2015, vợ chồng ông V, bà N có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 136 này cho ông Huỳnh Văn S1, trú tại: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và được Văn phòng C2 cùng ngày. Tuy nhiên, đến ngày 04/6/2022, vợ chồng ông V, bà N và ông Huỳnh Văn S1 làm Văn bản hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và được Văn phòng C2 công chứng cùng ngày.

Qua Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/4/2025 của Toà án cấp sơ thẩm và bản vẽ hiện trạng thể hiện: Trụ móng ở điểm 1 và bức tường phía nam nhà ông Q từ điểm 1 đến điểm 2 tiếp giáp với nhà đất thửa 136 của ông V, bà N có chiều dài 1,2 m; Bức tường sân phía đông của nhà ông Q từ điểm 3 đến điểm 4 có chiều dài 2,1 m và Cổng nhà ông Q từ điểm 4 đến điểm 5 có chiều dài 1,6 m. Do đó, không thể lấy diện tích đất nhà ông Q, bà T1 có kích thước, diện tích quá nhỏ để tạo lối đi cho vợ chồng ông V, bà N đi từ thửa 136 qua thửa đất 135 của vợ chồng ông Q, bà T1 ra đường công cộng.

Tuy nhiên, qua xem xét thẩm định ngày 23/4/2025, bản vẽ sơ đồ hiện trạng của các thửa đất và hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 724333 ngày 16/11/2015 của vợ chồng ông V, bà N thì thấy hiện nay thửa 136 tiếp giáp với thửa 47 và thửa 45 cùng tờ bản đồ số D4-III-D-a có không gian đảm bảo cho việc mở lối đi cho thửa 136. Do đó, vợ chồng ông V, bà N có thể liên hệ và thỏa

6

thuận với các chủ sử dụng thửa đất liền kề nói trên để có điều kiện mở lối đi vào thửa đất của ông V, bà N.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm vào ngày 31/12/2025, xét thấy cần làm rõ về hiện trạng, sơ đồ của các thửa đất của các bên đương sự cũng như các hộ dân liền kề nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và làm công văn gửi Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đắk Lắk để làm rõ về lối đi của nguyên đơn.

Vào ngày 19/01/2026, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy: “Nguyên trước có lối đi nhưng hiện nay ông Q đã xây dựng công trình nhà cấp 3 (3 tầng) trên diện tích đất đã nhận chuyển nhượng. Công trình xây dựng năm 2020 hay 2021. Do đó hiện trạng không còn lối đi để lại. Tiếp giáp lối đi này còn có công trình nhà ở của ông B, bà L xây dựng đã lâu, không đi lại được. Trên lối đi này thuộc thửa đất 37 có công trình xây dựng kiên cố là của ông C. Hiện nay không còn là lối đỉ”.

Như vậy, thực tế hiện nay cho thấy thửa đất của nguyên đơn bị bao bọc bởi công trình xây dựng của người dân, không có lối đi, nếu buộc phải mở lối đi qua thửa đất của bị đơn thì phải phá dỡ một phần ngôi nhà cấp 3 đã xây kiên cố (3 tầng) của bị đơn là không hợp lý và ảnh hưởng đến kết cấu của công trình, còn diện tích đất thì nhỏ và hẹp chỉ có 61,44m² nên bị đơn không đồng ý mở lối đi cho nguyên đơn, ngoài ra trên lối đi tại thửa đất số 37 còn có công trình của ông C. Mặt khác, sau khi vợ chồng ông V, bà N chuyển nhượng đất cho bố mẹ của ông Q và sau đó ông Q xây nhà kiên cố ở cả lối đi mà vợ chồng ông V, bà N cho rằng là lối đi chung nhưng tại thời điểm đó ông V, bà N không có ý kiến gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã gửi Công văn đến Ủy ban nhân dân phường T để xác minh, làm rõ về lối đi qua bất động sản của nguyên đơn nhưng không có kết quả trả lời.

[2.3] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn có cung cấp Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2015/KDTMST ngày 06/8/2015 của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên và Biên bản định giá tài sản, thẩm định tại chỗ. Tại bản án này có tuyên buộc vợ chồng ông V, bà N phải làm thủ tục tách thửa phần nhà đã bán cho vợ chồng ông Q, bà T1 theo biên bản định giá và sơ đồ hiện trường do Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà lập ngày 14/4/2015. Tuy nhiên, theo quyết định của Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nêu trên thì chỉ tuyên buộc nguyên đơn làm thủ tục tách thửa cho bị đơn và tại sơ đồ bản vẽ hiện trạng thì không thể hiện rõ hiện trạng của các thửa đất cụ thể của từng người và cũng không thể hiện có lối đi chung.

7

Từ những phân tích nêu trên, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải mở lối đi từ thửa đất 136, tờ bản đồ số D4-III-D-a đi qua thửa đất 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a của vợ chồng ông Q, bà T1 để đi ra đường công cộng là không có căn cứ chấp nhận. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông V, bà N là có cơ sở pháp lý. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận mà cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở cấp phúc thẩm: Theo yêu cầu của phía nguyên đơn, vào ngày 19 tháng 01 năm 2026 Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền chi phí là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Do không chấp nhận đơn khởi kiện và đơn kháng cáo của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu và nguyên đơn đã nộp xong số tiền này theo quy định tại Điều 155, Điều 156, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 11/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vợ chồng ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N tại Đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề đối với thửa đất 135, tờ bản đồ số D4-III-D-a tại địa chỉ số B L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay phường T, tỉnh Đắk Lắk) của vợ chồng ông Huỳnh Bảo Q, bà Lê Thị T1.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Vợ chồng ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N phải chịu cả hai lần xem xét thẩm định tại chỗ tại Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tổng cộng là 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng) và đã nộp đầy đủ.
  3. Về án phí: Ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

8

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TANDTC;
  • VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • P.TTNV&THA;
  • TAND khu vực 11;
  • Phòng THADS khu vực;
  • Đương sự;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Y Phi Kbuôr

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2026/DS-PT ngày 27/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 51/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 15/8/2025, nguyên đơn ông Lê Tự V và bà Nguyễn Thị Thu N kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger