| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA Bản án số: 48/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27/01/2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đăng Thiện
- Ông Trịnh Trung Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 211/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh ngày: 30/08/1994; số định danh cá nhân: 038194023077; địa chỉ: Thôn B, xã Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh ngày: 03/10/1994; số định danh cá nhân: 038094035353; địa chỉ: Thôn B, xã Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H qua việc tìm hiểu, lấy nhau là do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Yên Định (nay là xã Yên Định), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 11/3/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 08 năm, sau đó thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không có hạnh phúc, nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp, luôn bất đồng về quan điểm, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm để vợ chồng chung sống nhưng không có kết quả, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến tháng 08/2024 thì vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Lê Thị N xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 15/3/2015. Từ khi vợ chồng ly thân thì cháu Anh T ở với chị. Ly hôn, nguyện vọng của chị N là xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N trình bày: Hiện tại chị đang đi làm tại Công ty TNHH G, thu nhập bình quân từ 6.500.000đ - 7.500.000đ/tháng, có đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị N xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H hiện đang cư trú tại thôn B, xã Y, tỉnh Thanh Hóa; Quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia tố tụng tại các phiên tòa, nhưng bị đơn đều không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.
Tại Biên bản xác minh lập ngày 09/12/2025, đại diện UBND xã Y cho biết: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn H, cùng địa chỉ tại thôn B, xã Y, có quan hệ là vợ chồng. Chị N và anh H đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là xã Y). Quá trình chung sống vợ chồng chị N và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 15/03/2015. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.
Tại "Bản tự khai" do cháu Nguyễn Thị Anh T viết ngày 25/11/2025 và ngày 10/12/2025 gửi Tòa án, có trình bày thể hiện nguyện vọng là lâu nay cháu đang ở với mẹ, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu xin được ở với mẹ (chị N) để ổn định cuộc sống.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án căn cứ các quy định pháp luật chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị N. Về hôn nhân: Cho chị N được ly hôn anh H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Anh T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị N khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn H, hiện đang cư trú tại: Thôn B, xã Y, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá. Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã Đ, huyện Y (nay là xã Y) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2015, ngày 11/3/2015, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không có tiếng nói chung trong gia đình. Từ tháng 8/2024 vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, chị N một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn; Anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh H không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị N, xử cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
[3] Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 15/3/2015. Xét: Con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T hiện nay đang ở với chị N; quá trình giải quyết vụ án chị N có ý kiến xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đã chứng minh được các điều kiện để nuôi con. Mặt khác, cháu Anh T đã trên 7 tuổi và có ý kiến thể hiện nguyện vọng là xin được ở với mẹ (chị N) để ổn định sinh hoạt; Anh H thì không đến Tòa án làm việc, không trình bày quan điểm về nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, xét cần thiết giao con chung cháu Nguyễn Thị Anh T cho chị N được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của chị N và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do đó, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Văn H không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn H có 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 15/3/2015. Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T cho chị Lê Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị N đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0001791 ngày 17/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Như vậy, chị Lê Thị N đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 - Thanh Hoá; - THADS tỉnh Thanh Hoá; - P. kiểm tra nghiệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - UBND xã Yên Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tiến |
Bản án số 48/2026/HNGĐ-ST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 48/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
