TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DS-ST Ngày 14-11-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAΙ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lựu
Bà Cao Trúc Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2024/TLST- DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST– DS ngày 18 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QÐST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
- Địa chỉ: Số H L, phường Đ, thành phố Hà Nội.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty Cổ phần M; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường C, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Tấn P – Cán bộ xử lý nợ (Theo văn bản uỷ quyền số 67405/2025/UQ-VPB ngày 24/5/2025).
- Địa chỉ liên hệ: Số H P, phường B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- 2. Bị đơn: Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1965
- Nơi cư trú: Tổ D, thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 11 năm 2024 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trình bày:
Bà Phan Thị Ngọc H đã ký kết với Ngân hàng TMCP V (sau đây viết tắt là V1) Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140730537/PVH/HĐTC ký ngày 29/06/2018 để vay số tiền 395.000.000 đồng; Thời hạn vay: 48 tháng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu MAZDA 2 1.5L sedan, máy xăng, số tự động, 5 chỗ, mới 100%; Lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9.8%/năm (lãi suất được tính theo năm, với một năm là 365 ngày).
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, V1 ký kết với bà Phan Thị Ngọc H Hợp đồng thế chấp số LN1806140730537/PVH/HĐTC ngày 29/06/2018, tài sản bảo đảm là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát số: 93A-122.28, số khung: RN2DL4AA6JC091298, số máy: P520440946 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020034 do Phòng CSGT tỉnh B cấp ngày 27/06/2018.
Ngày 27/12/2024, V1 và Công ty Cổ phần M (M) đã ký Hợp đồng mua bán nợ số 15/2024/VPT-JPT và các phụ lục đính kèm. Theo đó, V1 đồng ý bán và J đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là bà Phan Thị Ngọc H bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà bà Phan Thị Ngọc H đã ký kết với V1.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty Cổ phần M kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của V1 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Toà án theo quy định pháp luật.
Quá trình sử dụng vốn vay, bà H đã thanh toán cho V1 số tiền nợ gốc là: 181.082.004 đồng và nợ lãi là: 51.513.720 đồng. Kể từ ngày 01/10/2019 bà H đã không tiếp tục thanh toán nợ vay cho V1 theo như Hợp đồng tín dụng đã ký nên V1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn.
Do đó, Công ty Cổ phần M là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của V1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị H có nghĩa vụ trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2025 là: 530.513.200 đồng (Bằng chữ: Năm trăm ba mươi triệu năm trăm mười ba nghìn hai trăm đồng), trong đó dư nợ gốc là 213.917.996 đồng và nợ lãi quá hạn là 316.595.204 đồng và bà H phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thoả thuận của các Hợp đồng tín dụng trên từ ngày 15/11/2025 cho đến khi trả hết nợ vay cho Công ty M.
Trường hợp bà Phan Thị Ngọc H không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Công ty M có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay.
Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà vẫn chưa thanh toán hết nợ thì bà Phan Thị Ngọc H vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Công ty M. Công ty M có quyền tiếp tục yêu cầu xác minh, thi hành án các tài sản khác của bà Phan Thị Ngọc H. Bà Phan Thị Ngọc H phải chịu toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Bị đơn bà Phan Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Tuân thủ quy định pháp luật, đồng thời nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn cư trú tại thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Nai theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên toà, Nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp nên xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Căn cứ vào Điều 91, 92, 93, 95 Bộ luật dân sự 2015 những tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp được xem là chứng cứ để xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ vào Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140730537/PVH/HĐTC ký ngày 29/06/2018, Hội đồng xét xử xác định: Bà Phan Thị H có vay của V1 số tiền 395.000.000 đồng; thời hạn vay: 48 tháng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu MAZDA 2 1.5L sedan, máy xăng, số tự động, 5 chỗ, mới 100%; Lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9.8%/năm (lãi suất được tính theo năm, với một năm là 365 ngày). Quá trình thực hiện hợp đồng bà H đã thanh toán cho V1 số tiền nợ gốc là: 181.082.004 đồng và nợ lãi là: 51.513.720 đồng, điều này thể hiện khi giao kết hợp đồng bà H hoàn toàn tự nguyện và nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 117 Bộ luật dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 23 Thông tư 39/2016/QĐ-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nên công nhận hợp đồng tín dụng trên giữa V1 và bà H là có hiệu lực và làm phát sinh nghĩa vụ của các bên khi ký kết hợp đồng.
- Theo thỏa thuận, thời hạn vay là 48 tháng, tính từ ngày 29/6/2018 đến ngày 29/6/2022 nhưng kể từ ngày 01/10/2019 bà H đã không tiếp tục thanh toán nợ gốc và lãi cho V1 nên V1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng, do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận do hai bên đã ký kết và phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 103 Luật tổ chức tín dụng năm 2024; tại các Điều 18, 21 Thông tư 39/2016/QĐ-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Điều 7, 8, 10 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên cần chấp nhận. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2025 là: 530.513.200 đồng (Bằng chữ: Năm trăm ba mươi triệu năm trăm mười ba nghìn hai trăm đồng), trong đó nợ gốc là 213.917.996 đồng và nợ lãi quá hạn là 316.595.204 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/11/2025 cho đến khi bà H trả hết nợ vay cho Công ty M theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.
- Xét giao dịch đảm bảo đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát số: 93A-122.28, số khung: RN2DL4AA6JC091298, số máy: P520440946: Việc thế chấp xe được thực hiện đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm tại Điều 298 Bộ luật dân sự; Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó giao dịch đảm bảo này là hợp pháp và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với tài sản thế chấp. Vì vậy, khi bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì V1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự.
- Ngày 27/12/2024, V1 và Công ty Cổ phần M (M) đã ký Hợp đồng mua bán nợ số 15/2024/VPT-JPT và các phụ lục đính kèm. Theo đó, V1 đồng ý bán và J đồng ý mua (các) khoản nợ của bà Phan Thị Ngọc H bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà bà Phan Thị Ngọc H đã ký kết với V1. Đồng thời, V1 chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty M được kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với các khoản nợ đã mua; quyền đối với tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ; quyền đối với các chi phí phát sinh có liên quan đến khoản nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định việc mua bán nợ giữa Ngân hàng V1 và Công ty M là đúng quy định nên bà Phan Thị H phải có nghĩa vụ trả các khoản nợ cho Công ty M theo nội dung đã thỏa thuận tại hợp đồng mua bán nợ giữa Công ty M và V1.
- Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung của vụ án là có cơ sở nên cần được ghi nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 298; 299; 466 Bộ luật dân sự; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 103 Luật tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 18, 21, 23 Thông tư 39/2016/QĐ-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Điều 7, 8, 10 Nghị quyết 01/2019/-NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Buộc bà Phan Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần M tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/11/2025 là: 530.513.200 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm ba mươi triệu năm trăm mười ba nghìn hai trăm đồng), trong đó nợ gốc là 213.917.996 đồng và nợ lãi quá hạn là 316.595.204 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp số LN1806140730537/PVH/HĐTC ký ngày 29/06/2018 (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).
Trường hợp bà Phan Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền trên, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản sau để thu hồi nợ: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, biển kiểm soát số: 93A-122.28, số khung: RN2DL4AA6JC091298, số máy: P520440946 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020034 do Phòng CSGT tỉnh B cấp ngày 27/06/2018 đứng tên bà Phan Thị H.
Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà vẫn chưa thanh toán hết nợ cho Công ty Cổ phần M thì bà Phan Thị Ngọc H vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho Công ty Cổ phần M.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị H phải chịu 25.220.528 đồng (Hai mươi lăm triệu hai trăm hai mươi nghìn năm trăm hai mươi tám đồng).
Công ty Cổ phần M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Nai (trước đây là Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước) hoàn trả cho Công ty Cổ phần M (là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V) số tiền tạm ứng án phí 11.347.031 đồng (Mười một triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn không trăm ba mươi mốt đồng) mà Ngân hàng TMCP V đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003342 ngày 18 tháng 12 năm 2024.
- Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trần Ánh Nguyệt |
Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 47/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
