|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2026/DS-PT Ngày 22-01-2026 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng.
Các Thẩm phán: Ông Dương Hà Ngân và ông Nguyễn Thế Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 534/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 29- 8- 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 704/2025/QĐ-PT ngày ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 491/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh X và bà Hoàng Thị T; cùng địa chỉ: Bon Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng – Ông X có mặt, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Văn C - Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Số A, đường N, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Điểu Đ; địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn H – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Thiên H1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Đường N, tổ B, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Thị B, chị Thị Á; địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng – Bà B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Á có mặt.
- Anh Điểu H2; Chị Thị Hap T1; địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng –Vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ lần 2.
- Anh Điểu D; địa chỉ: Bon Đ, xã T, tỉnh Lâm Đồng – – Vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ lần 2.
- Anh Điểu D1; địa chỉ: B Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
- Anh Điểu G; địa chỉ: Bon Đ, xã Q, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ lần 2.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Điểu Đ và những người liên quan bà Thị Á, bà Thị B, ông Điểu D, ông Điểu H2, ông Điểu D1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
nguyên đơn trình bày:
Năm 2014, gia đình có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B 01 lô đất có diện tích chiều ngang theo tỉnh lộ 681 là 05m, chiều dài 50m, tổng diện tích đất là 250m2, thửa đất tọa lạc tại B2, xã Đ, huyện T (nay là Bon Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng) với giá thỏa thuận là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), gia đình ông đã trả cho vợ chồng ông Đ, bà B tổng số tiền là 420.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi triệu đồng) trong đó khi làm giấy tờ sang nhượng xong đã trả số tiền 400.000.000 đồng, đến năm 2016 đưa thêm 20.000.000 đồng, còn 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) hẹn khi nào tách xong Giấy CNQSD đất sẽ trả đủ. Toàn bộ diện tích đất nhận chuyển nhượng trên nằm trong giấy Chứng nhận QSD đất số CD 199381 tại thửa đất số 82a, tờ bản đồ số 12 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp đổi ngày 12/9/2016 mang tên hộ ông Điểu Đ (Giấy CNQSD đất trước đây do UBND huyện Đ cấp cho hộ gia đình ông Điểu Đ ngày 02/5/1997), có diện tích là 1760m2, trong đó có 400m2 đất ở. Khi sang nhượng đất các bên có thỏa thuận trong 250m2 đất sang nhượng có 90m2 đất ở, còn lại là đất nông nghiệp. Gia đình ông Điểu Đ có trách nhiệm sang tên, tách thửa đất theo quy định.
Sau khi thỏa thuận sang nhượng đất và giao số tiền 400.000.000đ xong, vợ chồng ông Đ đã chỉ đất, chỉ mốc vào bàn giao đất cho gia đình ông trên thực địa. Từ khi nhận chuyển nhượng đất năm 2014 gia đình đã quản lý, sử dụng, làm nhà và sinh sống trên thửa đất đất từ đó đến nay. Gia đình đã rất nhiều lần yêu cầu gia đình ông Đ làm thủ tục tách giấy CNQSD đất nhưng gia đình ông Đ lấy nhiều lý do không chịu tách, trong đó có một phần diện tích đất nằm trong giấy CNQSD đất đã cấp cho gia đình ông Đ đang tranh chấp nên không làm thủ tục tách thửa đất được.
Nay, vợ chồng ông yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết ngày 20/7/2014 và buộc vợ chồng ông Điều Đ1, bà Thị B phải có nghĩa vụ tách giấy chứng nhận QSD đất với diện tích đất đã sang nhượng hiện vợ chồng đang quản lý, sử dụng theo kết quả đo đạc là 214,6m2, trong đó có 90m² đất ở theo như đã thỏa thuận và gia đình ông sẽ trả số tiền còn lại 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) cho vợ chồng ông Đ1. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 28/3/2025 bị đơn
ông Điểu Đ trình bày:
Năm 2014, gia đình ông (gồm ông và vợ là bà Thị B) có chuyển nhượng 01 phần diện tích đất có chiều ngang theo tỉnh lộ 681 là 05m, chiều dài là 50m, tổng diện tích đất là 250m2, lô đất tọa lạc tại B2 B, xã Đ cho vợ chồng ông X, bà T, giá trị chuyển nhượng các bên thỏa thuận là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Phần diện tích đất sang nhượng trên nằm trong thửa đất số 12, tờ bản đồ số 82a đã được UBND huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất cho hộ gia đình ông từ ngày 02/5/1997; Năm 2016 ông có xin cấp đổi lại giấy CNQSD đất nên đã được UBND huyện T cấp đổi Giấy CNQSD đất ngày 12/9/2016 vẫn mang tên hộ ông Điểu Đ. Sau khi sang nhượng cho ông X, bà T, ông có đi thực hiện thủ tục tách thửa nhưng diện tích đất đã được cấp Giấy CNQSD đất cho ông có tranh chấp với bà Lê Thị B1 nên không thực hiện được. Còn việc vợ chồng ông X nói có đưa thêm cho vợ và con trai ông là Điểu D1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) thì ông không biết. Vợ chồng ông mới nhận của vợ chồng ông X số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông X, bà T do hiện nay đất không thể tách thửa được do đang tranh chấp, ông sẽ lấy lại diện tích đất đã sang nhượng và đồng ý trả lại số tiền sang nhượng đất đã nhận là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) cho vợ chồng ông X, bà T.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 28/3/2025 người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thị B trình bày:
Gia đình bà có chuyển nhượng 01 lô đất có diện tích chiều ngang theo tỉnh lộ 681 là 05m, chiều dài là 50m, tổng diện tích đất là 250m2, lô đất tọa lạc tại Bon B Mlạnh B, xã Đ cho anh X, chị T, giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) vào năm 2014. Giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), vợ chồng ông X đã đưa cho vợ chồng bà số tiền là 400.000.000 (bốn trăm triệu đồng), vợ chồng bà đã giao đất cho vợ chồng ông X sử dụng từ năm 2014 đến nay. Nay một phần diện tích đất giáp ranh với diện tích đất sang nhượng cho vợ chồng ông X đang tranh chấp với bà B1 nên không thực hiện thủ tục tách thửa đất được. Bà không đồng ý sang nhượng diện tích đất
trên cho vợ chồng ông X, bà T nữa, bà sẽ lấy lại đất và trả lại tiền cọc cho vợ chồng ông X, bà T số tiền 400.000.000đồng. Vì theo phong tục của đồng bào M’ Nông là khi đất có tranh chấp không được sang nhượng cho ai nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông X, bà T.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 28/3/2025 người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thị Á trình bày:
Bố mẹ chị sang nhượng đất cho ông X, bà T 01 lô đất tại bon B2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông vào năm 2014. Thời điểm sang nhượng thì chị có biết và chị không đồng ý cho bố, mẹ chị sang nhượng đất cho ông X, bà T. Nay vợ chồng ông X bà T khởi kiện yêu bố mẹ chị thực hiện thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị không đồng ý, vì đây là diện tích đất chung của cả nhà chị, ngoài ra chị không có yêu cầu gì thêm.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
anh Điểu D1 trình bày:
Diện tích đất bố mẹ anh sang nhượng cho vợ chồng ông X là đất chung của gia đình, anh không biết việc bố mẹ anh sang nhượng đất năm 2014 cho vợ chồng ông X. Đối với số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi tươi triệu đồng) mà vợ chồng ông X, ông T nói anh và mẹ là bà Thị B đã nhận và kí vào giấy tờ nhận tiền là không đúng, anh không nhận tiền từ vợ chồng anh X, chị T. Anh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông X, đề nghị vợ chồng ông X trả lại diện tích đất sang nhượng cho bố mẹ anh.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
anh Điểu D trình bày:
Ngày 20/7/2014 bố mẹ anh là ông Điểu Đ và bà Thị B có sang nhượng cho ông X, bà T 01 lô đất có diện tích khoảng 250m² tọa lạc tại bon B2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Diện tích đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1997. Anh không biết việc bố mẹ anh sang nhượng đất cho ông X, bà T vì bố mẹ anh không nói. Anh không biết việc các bên thỏa thuận như thế nào khi sang nhượng. Anh biết ông X, bà T sinh sống trên diện tích đất này từ năm 2014 nhưng nghĩ là bố mẹ anh cho thuê đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông X, bà T anh không có ý kiến gì và yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
anh Điểu H2 trình bày:
Vào năm 2014, bố mẹ anh là ông Đ, bà B có sang nhượng cho ông X, bà T 01 lô đất tại bon B2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Khi bố mẹ anh sang nhượng anh không biết vì lúc đó anh đang đi học ở tỉnh Đắk Nông. Việc các bên sang
nhượng thỏa thuận như thế nào anh không rõ. Đối với thửa đất bố mẹ anh đã sang nhượng cho vợ chồng ông X, bà T có nguồn gốc bố mẹ anh đã sử dụng từ lâu, thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1997. Nay vợ chồng ông X bà T khởi kiện yêu cầu bố mẹ anh thực hiện thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh không có ý kiến và yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
chị Thị Hap T1 trình bày:
Vào năm 2014, bố mẹ chị là ông Đ, bà B có sang nhượng cho ông X, bà T 01 lô đất tại bon B2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Khi bố mẹ chị sang nhượng chị không biết vì khi đó chị còn nhỏ đang đi học. Nay vợ chồng ông X bà T khởi kiện yêu cầu bố mẹ chị thực hiện thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị không có ý kiến và yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án người làm chứng anh Điểu H3 trình
bày:
Vào năm 2014, thời điểm đó anh đang là bon trưởng bon Bu Mlanh B, xã Đ nên anh có ký làm chứng trong giấy mua bán đất, nhà giữa ông X, bà T với ông Điểu Đ, bà Thị B. Thời điểm sang nhượng thì đất sang nhượng đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Điểu Đ. Khi sang nhượng lô đất này các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), ông X, bà T đã trả được 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), còn nợ lại 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) hẹn khi nào làm thủ tục sang tên giấy trên giấy chứng nhận quyền sử đất xong sẽ trả. Ông X, bà T đã sử dụng, quản lí và sinh sống trên thửa đất từ năm 2014 đến nay. Nay giữa các bên tranh chấp thì không liên quan gì đến anh vì thời điểm đó anh chỉ là người làm chứng.
Trong quá trình giải quyết vụ án người làm chứng anh Bùi Văn T2 trình
bày:
Từ năm 2019 trở về trước anh có sinh sống tại bon B2, xã Đ. Vào ngày 30/9/2016 anh có chứng kiến vợ chồng ông X, bà T đưa cho bà Thị B số tiền 20.000.000đ để trả tiền mua đất từ năm 2014 đối với lô đất vợ chồng ông X, bà T đang ở. Khi làm giấy trả tiền mua đất thì anh có được ký tên với tư cách là người làm chứng. Anh cam kết chữ ký, chữ viết trong giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016 là của bà Thị B và anh Đ2 Duân con trai bà Thị B.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 29- 8- 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Lâm Đồng đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91; khoản 2 Điều 92, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 229 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 223; Điều 275; Điều 500, 501, 502 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T đối với ông Điểu Đ.
- Công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T và vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy bán đất, nhà) ngày 20/7/2014 và Giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016, đối với diện tích đất 214,6m2 (trong đó có 90m2 đất ở và 124,6m2 đất trồng cây lâu năm) nằm trong diện tích đất 1760m2 tại thửa đất số 82a, tờ bản đồ số 12 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp đổi lại Giấy CNQSD đất ngày 12/9/2016 mang tên hộ ông Điểu Đ tọa lạc tại B2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông (Nay là bon Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng), có tứ cận như sau:
- Phía Bắc giáp đất ông Điểu Đ dài 43,10m;
- Phía Nam giáp đất ông Điểu Đ dài 42,73m;
- Phía Đông giáp đất chị Thị Á đang sử dụng rộng 05m
- Phía Tây giáp tỉnh lộ 681 rộng 05m.
- (Có sơ đồ mảnh trích đo địa chính số 133 – 2023 kèm theo).
- Buộc vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B và các con trong hộ (có liên quan) phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy bán đất, nhà) ngày 20/7/2014 và Giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016.
- Vợ chồng ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục tách thửa diện tích đất trên theo quy định của pháp luật.
- Ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T phải thanh toán số tiền sang nhượng đất còn lại là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) cho vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 03-10-2025, bị đơn ông Điểu Đ, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Thị Á, bà Thị B, ông Điểu D, ông Điểu H2, ông Điểu D1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015, đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Điểu D, anh Điểu H2 và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Điểu Đ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Thị B, chị Thị Á, anh Điểu D1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của ông Điểu Đ, bà Thị Á, bà Thị B, ông Điểu D, ông Điểu H2, ông Điểu D1 nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định.
[1.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo ông Điểu D và ông Điểu H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Điểu D và ông Điểu H2.
[1.3]. Bị đơn ông Điểu Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Điểu Đ, bà Thị B.
[1.4]. Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Nguyễn Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Điểu D1 đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu tiến hành trưng cầu giám định lại chữ ký, chữ viết tại giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016 với số tiền 20.000.000 đồng do nguyên đơn giao nộp tại phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung này Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Điểu D1 đã có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giám định lại chữ ký, chữ viết tại giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016. Tuy nhiên, khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng phục vụ công tác giám định thì những người có đơn yêu cầu giám định không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Điểu D1 về mục đích của việc trưng cầu giám định lại thì ông Điểu D1 cho rằng nếu kết quả giám định lần 02 vẫn kết luận đúng chữ ký, chữ viết của ông D1 thì ông D1 cũng không rút đơn kháng cáo, điều này cho thấy các đương
sự muốn kéo dài thời gian giải quyết vụ án mà không phải để tìm ra sự thật khách quan của vụ án.
[2]. Đối với chứng cứ là bản gốc giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016 do nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm:
Tại Điều 287 Bộ luật tố tụng Dân sự quy định trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong bất kỳ giai đoạn nào. Trường hợp sau thời điểm tiếp cận, công khai chứng cứ mới cung cấp thì phải chứng minh lý do cho việc cung cấp tài liệu, chứng cứ muộn. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đã trình bày lý do việc cung cấp tài liệu, chứng cứ muộn tại phiên tòa sơ thẩm là do bị thất lạc bản gốc và chỉ có bản photo, sau khi tìm thấy mới có để cung cấp cho Tòa án. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, đánh giá và công nhận tài liệu, chứng cứ trên để quyết định trong vụ án này là phù hợp với quy định tại Điều 287 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[3]. Xét nội dung giải quyết vụ án, yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Điểu Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị Á, bà Thị B, ông Điểu D1:
[3.1]. Người kháng cáo cho rằng diện tích đất các bên chuyển nhượng thuộc một phần thửa đất số: 82a, tờ bản đồ số 12 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 555302 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/5/1997 cho hộ gia đình ông Đ3 Định nhưng khi định đoạt thì chỉ có ông Điểu Đ và bà Thị B ký bên chuyển nhượng, các thành viên trong hộ gia đình không biết việc chuyển nhượng trên. Mặt khác, bị đơn ông Điểu Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị B cho rằng một phần thửa đất đang tranh chấp với hộ giáp ranh nên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng, đề nghị không tiếp tục thực hiện hợp đồng và đồng ý trả lại số tiền đã nhận từ nguyên đơn. Xét nội dung kháng cáo của ông Điều Đ1 và bà Thị B, Hội đồng xét xử thấy rằng: Năm 2014 ông Điểu Đ và bà Thị B đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Thanh X và bà Trần Thị T3 đối với diện tích 214,4m² thuộc một phần thửa đất số 82a, tờ bản đồ số 12 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 555302 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/5/1997 cho hộ gia đình ông Điều Đ1 với giá 500.000.000 đồng được thể hiện bằng giấy viết tay có chữ ký của trưởng thôn và có thể hiện họa đồ đo vẽ. Nội dung này trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận và không có tranh chấp.
[3.2]. Về mặt hình thức mặc dù việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên xác lập bằng giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực là vi phạm về mặt hình thức của hợp đồng quy định tại Điều 502 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bên nhận chuyển nhượng đã giao số tiền là 420.000.000đ/ 500.000.000đ và đã nhận đất sử dụng từ năm 2014 đến nay. Sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, bị đơn đã có đơn gửi cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để làm thủ tục tách thửa, tuy nhiên do một phần diện tích đất của bị đơn với hộ giáp ranh có tranh chấp nên đã tạm ngừng việc tách
thửa đây là lý do cho việc chưa thực hiện thủ tục tách thửa được cho nguyên đơn.
[4.3]. Xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của các bên thấy rằng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên mặc dù có vi phạm về mặt hình thức, tuy nhiên các bên đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ, do đó theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn việc cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên là có căn cứ và đúng theo quy tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự.
[4.4]. Về vị trí, diện tích thửa đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên xác định diện tích đất chuyển nhượng có chiều ngang dài 5m, chiều dài 50m. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày đã thuê nhà và đất của bị đơn từ năm 2009, đến năm 2014 thì nhận chuyển nhượng diện tích nhà, đất đã thuê. Nội dung này người kháng cáo thừa nhận là đúng. Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện các bên có vẽ họa đồ vị trí, tứ cận thửa đất do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm công nhận vị trí diện tích đất theo thực tế phù hợp với vị trí đất mà các bên đã sử dụng từ thời điểm thuê (2009) và sau khi nhận chuyển nhượng (2014). Đây là hiện trạng thực tế mà các bên nhận chuyển nhượng tại thời điểm năm 2014 do vậy có sơ sở công nhận diện tích đất theo vị trí, hiện trạng như các bên đã giao nhận tài sản tại thời điểm năm 2014 là phù hợp.
[4.5]. Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Điểu D1 và bà Thị Á, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù lời khai của ông D2 cho rằng không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không nhớ việc ký nhận đối với số tiền 20.000.000 đồng tại giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016. Tuy nhiên, tại kết luận giám định số: 97/KL-KLHS ngày 17-3-2025 của phòng K công an tỉnh Đ (nay là Công an tỉnh L) kết luận: Chữ ký, chữ viết của ông Điểu D1 giữa tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh là cùng một người viết ra. Đối với bà Á thừa nhận năm 2014 khi hai bên đặt cọc số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà Á có biết nhưng khi giao tiền thì bà Á bỏ đi, điểu này chứng tỏ khi bố mẹ bà Á (Đ và Thị B) chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất cho nguyên đơn thì bà Á và ông D1 đều chứng kiến, đều biết nhưng không phản đối. Hơn nữa, sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nguyên đơn đã nhận đất và sử dụng làm nhà ở từ 2014 đến nay và các thành viên trong hộ gia đình đều biết nhưng cho rằng đất cho nguyên đơn thuê, khi xảy ra tranh chấp mới biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nội dung này mâu thuẫn với lời khai của ông D1, bà Á tại phiên tòa khi cho rằng năm 2014 đã biết và cụ thể năm 2016 phía ông D1 đã ký nhận tiền.
Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Đ3 Định năm 1997, đối với các thành viên trong hộ gia đình gồm anh Điểu D1, anh Điểu D, chị Thị Á, anh Điểu G, anh Điểu H2 có tên trong sổ hộ khẩu. Tuy nhiên, thành viên theo sổ hộ khẩu không đồng nhất với thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất. Theo hồ sơ về kê khai, đăng ký tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 cho hộ ông Điểu Đ, thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất xác định gồm có ông Điểu Đ và bà Thị B vì đã có công sức đóng góp, tạo lập tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 102, Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015.
Như vậy việc những người kháng cáo cho rằng có quyền định đoạt tài sản của hộ gia đình là không có căn cứ để chấp nhận. Do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của bà Thị Á và ông Điểu D1.
[4.5]. Từ những vấn đề nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo người kháng cáo có mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận do vậy Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của những người kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
[5]. Về án phí:
[5.1]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng bị đơn là người già trên 60 tuổi (sinh năm 1955). Do vậy, căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị đơn được miễn nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm nêu trên theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm tương đương với số tiền chuyển nhượng đất phải trả cho bị đơn.
[3.2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo có mặt tại phiên tòa phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 thì số tiền tạm ứng án phí đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Điểu D và ông Điểu H2.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Điểu Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị Á, bà Thị B, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2025/DS-ST ngày 29-8- 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Lâm Đồng.
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 688, Điều 117, Điều 102, Điều 129, Điều 212, Điều 500, Điều 501, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T đối với ông Điểu Đ.
3.1. Công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T và vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy bán đất, nhà) ngày 20/7/2014 và Giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016, đối với diện tích đất 214,6m2 (trong đó có 90m2 đất ở và 124,6m2 đất trồng cây lâu năm) nằm trong diện tích đất 1760m2 tại thửa đất số 82a, tờ bản đồ số 12 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp đổi lại Giấy CNQSD đất ngày 12/9/2016 mang tên hộ ông Điểu Đ tọa lạc tại B2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông (Nay là bon Bu Mlanh B, xã T, tỉnh Lâm Đồng), có tứ cận như sau:
- Phía Bắc giáp đất ông Điểu Đ dài 43,10m;
- Phía Nam giáp đất ông Điểu Đ dài 42,73m;
- Phía Đông giáp đất chị Thị Á đang sử dụng rộng 05m
- Phía Tây giáp tỉnh lộ 681 rộng 05m.
- (Có sơ đồ mảnh trích đo địa chính số 133 – 2023 kèm theo).
3.2. Buộc vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B và các con trong hộ (có liên quan) phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy bán đất, nhà) ngày 20/7/2014 và Giấy trả tiền mua đất ngày 30/9/2016.
3.3. Vợ chồng ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục tách thửa diện tích đất trên theo quy định của pháp luật.
3.4. Ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T phải thanh toán số tiền sang nhượng đất còn lại là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) cho vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị B.
Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Điểu Đ, bà Thị B phải hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T số tiền 22.000.000₫ (Hai mươi hai triệu đồng) chi phí tố tụng (Gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thẩm định giá và chi phí giám định chữ ký, chữ viết).
5. Về án phí:
5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Điểu Đ, bà Thị B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T phải chịu 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002563 ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – lâm Đ4). Ông Nguyễn Thanh X, bà Hoàng Thị T còn phải nộp 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Điểu Đ, bà Thị B, ông Điểu D1, bà Thị Á mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004535; 0004537; 0004536 ngày ngày 09 tháng 10 năm 2025; số 0005651 ngày 17 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Sung vào công quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) do ông Điểu D và Điểu H2 đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005652 và số 0005650 ngày 17/10/2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thế Hạnh Dương Hà N |
Nguyễn Anh Ửng |
Bản án số 44/2026/DS-PT ngày 22/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 44/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
