Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 44/2026/DS-PT
Ngày: 14-01-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa; Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số lý 784/025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 824/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Quốc T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số D, ấp D, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã M, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2025).

- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1981 (có mặt).
Nơi ĐKTT: Ấp K, xã M, tỉnh Tây Ninh. Hiện trú tại: Ấp L, xã P, tỉnh Tây Ninh.
2. Bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1981. Hiện trú tại: Ấp L, xã P, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Lê Minh T1, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Số F, lô B, chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 22/8/2025).

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Thanh P, bà Lê Thị Kim H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Phan Quốc T do ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá quá trình quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau:

Ngày 12/10/2023, ông Phan Quốc T có cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh P và bà Lê Thị Kim H vay số tiền 5.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm từ ngày 12/10/2023 đến ngày 12/10/2024, lãi suất là 1.1%/tháng, ngày trả lãi là ngày 12 dương lịch hàng tháng. Đây là tiền ông T cho ông P vay, không phải là tiền hùn làm ăn như ông P trình bày. Ông T không biết bà Lê Thị Thanh X, việc vay nợ giữa ông P và bà X không liên quan đến ông T. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P không có khả năng thanh toán. Do đó, ngày 22/01/2024, ông P và ông T lập văn bản có tiêu đề “Đơn khấu trừ tài sản để trả nợ” để thỏa thuận về phương thức trả nợ. Theo đó, ông P thực hiện thủ tục ủy quyền hoặc chuyển nhượng 02 thửa đất cho ông T để giảm một phần nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, đến nay, ông P vẫn không thực hiện theo thỏa thuận cũng không trả nợ vay cho ông T. Nay, ông T không đồng ý với thỏa thuận tại văn bản có tiêu đề “Đơn khấu trừ tài sản để trả nợ” ngày 22/01/2024, ông T yêu cầu ông P và bà H liên đới trả cho ông T số tiền gốc và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 6.581.690.000 đồng. Trong đó:

  • Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng.
  • Tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày 12/10/2023 đến ngày 12/10/2024 là: 5.000.000.000 đồng x 1,1%/tháng x 12 tháng = 660.000.000 đồng.
  • Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 13/10/2024 đến ngày 29/8/2025 theo mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn là: 5.000.000.000 đồng x 1,65%/tháng x 10 tháng 15 ngày = 866.250.000 đồng.
  • Tiền lãi trên nợ lãi chậm trả từ ngày 13/10/2024 đến ngày 29/8/2025 theo mức lãi suất 10%/năm là: 660.000.000 đồng x 0,8%/tháng x 10 tháng 15 ngày = 55.440.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, ông P không có ý kiến về 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông T giữ nên ông T và ông P sẽ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh P trình bày: Năm 2023, thông qua bạn bè giới thiệu thì ông Phan Quốc T chủ động xin hùn vốn làm ăn với ông. Ông T giao cho ông 5.000.000.000 đồng để ông cho người khác vay. Ông T biết ông sử dụng số tiền này để cho bà Lê Thị Thanh X vay, lãi thu được thì ông và ông T chia nhau. Để bảo đảm cho số tiền này, ngày 12/10/2023, ông và ông T giao kết hợp đồng vay tài sản tại Văn phòng C. Vợ ông là bà Lê Thị Kim H không biết ông có nhận tiền từ ông T để làm ăn. Sau đó, việc làm ăn của ông không thuận lợi, ông và ông T có thỏa thuận khấu trừ nợ tại văn bản có tiêu đề “Đơn khấu trừ tài sản để trả nợ” ngày 22/01/2024. Nếu ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện thì ông chỉ đồng ý trả cho ông T nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi.

Bị đơn bà Lê Thị Kim H trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Thanh P. Bà chỉ biết ông P có làm ăn, mua bán đất đai. Còn việc làm ăn của ông P với ông T thì bà hoàn toàn không biết. Bà không đồng ý liên đới cùng ông P trả nợ cho ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện đúng quy định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Thanh P thừa nhận có nhận từ ông Phan Quốc T số tiền 5.000.000.000 đồng, có ký hợp đồng vay tài sản vào ngày 12/10/2023. Ông P cho rằng đây là tiền hùn làm ăn nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh. Nội dung hợp đồng vay thể hiện ông T cho ông P vay 5.000.000.000 đồng, thời hạn 01 năm, lãi suất 1,1%/tháng. Do đó, lời trình bày của ông P là không có căn cứ.

[3] Về nghĩa vụ trả nợ: Ông P nhận số tiền vay trong thời kỳ hôn nhân với bà Lê Thị Kim H. Thu nhập của ông P và bà H có được cùng sử dụng trong gia đình nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông P và bà H cùng liên đới trả nợ là phù hợp quy định tại Điều 33, Điều 37, Điều 45 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh P và bà Lê Thị Kim H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc T đối với ông Nguyễn Thanh P và bà Lê Thị Kim H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc ông Nguyễn Thanh P và bà Lê Thị Kim H liên đới trả cho ông Phan Quốc T số tiền 6.581.690.000 đồng.
  2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với các thửa đất số 1964, 1960, 329, 1955, 818 tại tỉnh Long An và Tây Ninh do ông Nguyễn Thanh P đứng tên chủ sử dụng.
  3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Thanh P và bà Lê Thị Kim H liên đới chịu 114.581.690 đồng án phí dân sự sơ thẩm và mỗi người chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND KV 7 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS KV 7-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án; án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Huỳnh Thị Hồng Vân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 44/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh P và bà Lê Thị Kim H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger