Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2026/DS-PT

Ngày: 19-01-2026

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà;

Bà Đặng Thị Ánh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 649/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 715/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Võ Thị Minh T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

- Bị đơn:

Anh Bùi Quang S, sinh năm 1989; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Bùi Thị H, sinh năm 1965; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

+ Anh Đặng Lê Trung T2, sinh năm 1991; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Lê Thị Thu T, là nguyên đơn.

- Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm,

Tại đơn khởi kiện ngày 12/11/2024 của nguyên đơn và trong quá trình xét xử đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Võ Thị Minh T1 trình bày:

Vào ngày 27/6/2022, nguyên đơn bà Lê Thị Thu T có cho anh Bùi Quang S vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay là 6 tháng, tính từ ngày 27/6/2022. Khi vay tiền có làm hợp đồng vay tiền đề ngày 27/6/2022. Sau khi vay anh Bùi Quang S đã đóng được cho bà T số tiền lãi là 26.000.000 đồng.

Ngày 03/9/2022, bà Lê Thị Thu T tiếp tục cho anh Bùi Quang S vay thêm số tiền là 170.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng, tính từ ngày 30/10/2022 trên số tiền 470.000.000 đồng. Lúc này, anh Bùi Quang S có thế chấp cho bà T một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh Bùi Quang S đứng tên. Sau khi vay, anh S không trả lãi và vốn cho bà T nên ngày 02/7/2023 bà T đến nhà anh S yêu cầu trả số tiền 470.000.000 đồng. lúc này, anh S hẹn 03 tháng sau sẽ trả tiền cho bà T đồng thời mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục bán đất trả nợ cho bà T.

Ngày 02/10/2023, anh S tiếp tục vay thêm số tiền 30.000.000 đồng nói mục đích vay là để cho cò nhờ kêu bán đất. Tổng cộng 3 lần vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 01%/tháng tính từ ngày 30/11/2023. Sau khi thỏa thuận, anh S đóng lãi được cho bà T từ tháng 2 đến tháng 6/2024 với số tiền là 25.000.000 đồng.

Sau đó, bà T phát hiện anh S bán đất cho người khác nhưng không trả tiền cho bà. Bà T có đến nhà S thì gặp mẹ của anh S là bà Bùi Thị H. Bà H hứa khi nào bà bán đất được thì bà sẽ trả tiền cho anh S. Tuy nhiên, đến nay anh S, bà H vẫn chưa thực hiện việc trả nợ cho bà.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần

yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu trả số tiền vay ngày 02/10/2023 là 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà T yêu cầu Tòa án buộc anh Bùi Quang S và bà Bùi Thị H liên đới trả cho bà T số tiền vay là 470.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng), yêu cầu tính lãi suất 0.83%/tháng trên số tiền 470.000.000 đồng từ ngày 01/7/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 29/9/2025. Tạm tính lãi là 470.000.000 đồng x 0.83% x 13 tháng 29 ngày = 54.483.966 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 524.483.966đ (Năm trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi ba ngàn chín trăm sáu mươi sáu đồng).

Tại bản tự khai ngày 4/9/2025, biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2025 bị đơn anh Bùi Quang S trình bày.

Trước đây, anh S có quen biết với con của bà Lê Thị Thu T là anh Đặng Lê Trung T2. Do hai bên có thời giam làm chung công ty nên có hỏi vay tiền với nhau nhiều lần. Tháng 6 năm 2022, anh S có hỏi vay của anh Đặng Lê Trung T2 số tiền 300.000.000 đồng. Anh T2 đồng ý cho vay và đã chuyển tiền vay 300.000.000 đồng cho anh S. Tuy nhiên, khi làm giấy tờ vay thì anh T2 yêu cầu anh S ký hợp đồng vay tiền với mẹ của anh là bà Lê Thị Thu T. Khi đến văn phòng công chứng hợp đồng vay, anh S đã ký hợp đồng vay với bà T và đồng thời có thế chấp cho anh T2 một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh S. Do cần bán đất nên anh S có hỏi mượn lại giấy chứng nhận để bán đất cho người khác. Hiện phần đất anh S đã chuyển nhượng cho người khác. Riêng số tiền vay anh T2 chuyển khoản, ngày 29/7/2022 hơn 01 tháng sau khi vay, anh S đã chuyển khoản trả cho anh T2 qua Ngân hàng, anh S có cung cấp chứng từ chuyển khoản bằng giấy ủy nhiệm chi ngày 29/7/2025 chuyển trả vốn và lãi là 329.800.000 đồng cho anh T2.

Việc ký hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 với bà T thực chất là ký cho số tiền vay anh T2 chuyển khoản chứ anh S không có vay tiền của bà T. Và thực tế, khi ký hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022, bà T cũng không có giao số tiền 300.000.000 đồng cho anh S. Việc bà T cho rằng anh T2 không có chuyển khoản cho anh S vay là không đúng. Ngược lại, bà T cũng không hề có chứng cứ đã giao số tiền vay 300.000.000 đồng cho anh S. Do đó, anh S không đồng ý trả cho bà T 300.000.000 đồng theo yêu cầu của bà T vì thực tế không có vay và bà T cũng không có giao số tiền 300.000.000 đồng cho anh S.

Đối với mặt sau tờ thứ hai của hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022, ghi nội dung “giấy mượn tiền tôi tên Bùi Quang S có mượn thêm cô Lê Thi Thu T3 số tiền 170.000.000 đồng ngày 3/9/2022”, phía dưới có chữ ký “S” và chữ “Bùi Quang S". Anh S cho rằng không phải chữ ký, chữ viết của anh. Tuy nhiên, qua kết quả giám định, anh S vẫn đồng ý, không yêu cầu giám định lại.

Đối với nội dung giấy hẹn nợ ghi “ngày 2/7/2023 ghi nội dung hẹn đến ngày 02/10/2023 trả hết vốn lẫn lãi...”, phía dưới có chữ ký “S” và chữ “Bùi Quang S”. Anh S cho rằng không phải chữ ký, chữ viết của anh. Tuy nhiên, qua kết quả giám định, anh S vẫn đồng ý, không yêu cầu giám định lại.

Đối với nội dung ghi “ngày 2/10/2023 = 30.000.000 đồng Tổng cộng nợ cô = 500.000.000 đ”.

Đối với nội dung này do ai viết thì anh S không biết, anh S không có xác nhận nội dung này.

Nay, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh S không đồng ý. Vì thực tế không có vay tiền của bà T3 và bà T3 cũng không có tài liệu chứng cứ gì thể hiện đã giao tiền vay theo hợp đồng vay ngày 27/6/2025 cho anh S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H trình bày: Bà là mẹ của anh Bùi Quang S. Trước đây, bà Lê Thị Thu T dẫn theo nhiều người đến tìm anh S để đòi tiền. Khi bà T xuống nhà đòi tiền, bà có nói với bà T về đi, khi nào anh S có tiền sẽ trả. Bà không có hứa sẽ phụ trả nợ cho anh S. Việc nguyên đơn yêu cầu bà liên đới trả nợ thì bà không đồng ý vì bà không có cùng anh S vay tiền của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Lê Trung T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy không thể thu thập được lời khai.

Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã tuyên:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu T đối với anh Bùi Quang S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Buộc anh Bùi Quang S phải có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Thu T số tiền nợ vay là 191.070.933 đồng (một trăm chín mươi mốt triệu không trăm bảy mươi ngàn chín trăm ba mươi ba đồng).
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu T đối với anh Bùi Quang S, bà Bùi Thị H về việc yêu cầu Tòa án buộc anh Bùi Quang S và bà Bùi Thị H trả số tiền vay 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) ngày 02/10/2023.
  4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Thu T về việc yêu cầu bà Bùi Thị H liên đới trả nợ vay cùng anh Bùi Quang S.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, tiền lãi chậm thi hành án, quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.

Ngày 09/10/2025, bà Lê Thị Thu T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho bà T số tiền 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 27/6/2022.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long có nội dung kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm số 205/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long về phần giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn về số tiền 300.000.000 đồng, tiền lãi của số tiền này và về phần án phí.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là chị Võ Thị Minh T1 trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn anh Bùi Quang S phải trả cho bà T số tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 27/6/2022, không yêu cầu tính lãi của số tiền vay này và không yêu cầu bà Bùi Thị H liên đới trả nợ số tiền vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long trình bày: Giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Bị đơn anh Bùi Quang S trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Lê Trung T2 trình bày: Đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Anh thừa nhận có chuyển khoản cho anh S mượn số tiền 300.000.000 đồng vào tháng 6 năm 2022 như anh S trình bày, tuy nhiên anh xác định số tiền này không liên quan đến số tiền 300.000.000 đồng mà bà T cho anh S vay theo hợp đồng ngày 27/6/2022, giao dịch giữa bà T với anh S là một giao dịch khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Bản án sơ thẩm không tuyên rõ việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay 300.000.000 đồng nhưng lại

buộc nguyên đơn chịu án phí đối với phần yêu cầu này là vi phạm Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng lại áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án (quy định về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận) là chưa đúng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  • Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Thu T.
  • Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.
  • Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2025/DSST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long: Buộc anh Bùi Quang S phải trả cho bà Lê Thị Thu T số tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 27/6/2022 (bà T không có kháng cáo về lãi suất nên không xem xét).
  • Các nội dung còn lại của bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
  • Án phí sơ thẩm cần tính lại cho phù hợp với nội dung bản án tuyên. Án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật (bà T không phải chịu án phí phúc thẩm).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Thu T, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Lê Thị Thu T có kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long có kháng nghị, đã thực hiện các thủ tục kháng nghị hợp lệ và trong thời hạn luật định nên kháng nghị được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của bà H tại phiên toà phúc thẩm không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án cũng như không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự do bà H không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng

nghị. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các bên đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị đối với nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên về số tiền vay 170.000.000 đồng ngày 03/9/2022 và tiền lãi phát sinh của số tiền vay cũng như về nghĩa vụ liên đới trả nợ của bà Bùi Thị H nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, kháng nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà T yêu cầu anh S phải trả cho bà T số tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 ký giữa bà T và anh S, số công chứng 5780, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ký tại Văn phòng C có nội dung bà T cho anh S vay số tiền 300.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh S thừa nhận có ký tên hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 với bên cho vay là bà T, tuy nhiên anh không thừa nhận việc vay tiền của bà T mà anh chỉ vay tiền từ anh Đặng Lê Trung T2 (con bà T) với số tiền 300.000.000 đồng do anh T2 chuyển khoản cho vay và anh đã trả xong khoản nợ cho anh T2 bằng hình thức chuyển khoản số tiền 329.800.000 đồng cho anh T2 ngày 29/7/2022, việc bà T ký tên hợp đồng vay tiền với anh S là do anh T2 yêu cầu chứ không có việc bà T cho anh S vay tiền. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long cho rằng bà T đã giao số tiền vay 300.000.000 đồng cho anh S nên anh S không có ý kiến gì mà đến ngày 03/9/2022 mượn thêm số tiền 170.000.000 đồng và theo lẽ thông thường khi bên vay ký hợp đồng vay tiền là đương nhiên sẽ nhận tiền nên khi đã ký hợp đồng thì bên cho vay không có nghĩa vụ chứng minh việc giao số tiền vay cho bên vay. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 không có nội dung thể hiện anh S đã nhận số tiền vay là 300.000.000 đồng từ bà T. Văn bản số 143/CV-VPCC ngày 11/8/2025 của Văn phòng C có nội dung cho biết Công chứng viên chỉ chứng nhận hợp đồng và không chứng kiến việc giao nhận tiền của hai bên. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của nguyên đơn thừa nhận việc giao nhận tiền do các bên tự thực hiện, không có sự chứng kiến của Công chứng viên và không có giấy tờ chứng cứ chứng minh việc bà T giao số tiền vay 300.000.000 đồng cho anh S. Mặc dù bà T không có giấy tờ chứng minh việc giao số tiền vay 300.000.000 đồng cho anh S, tuy nhiên lời trình bày của bà T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Cụ thể:

- Mặt sau của trang 3 hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 ký giữa bà T và anh S, số công chứng 5780, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được các bên đương sự thừa nhận đã ký, có nội dung viết tay tiêu đề “giấy mượn tiền” thể hiện anh S có “mượn thêm” bà T số tiền 170.000.000 đồng ngày 03/9/2022, có chữ ký, chữ viết tên Bùi Quang S. Mặc dù anh S không thừa nhận việc mượn số tiền 170.000.000 đồng nêu trên nhưng Kết luận giám định số: 258/2025/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là tỉnh Vĩnh Long) xác định chữ ký, chữ viết tên Bùi Quang S trong giấy mượn tiền viết tay ngày 03/9/2022 so với các mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Như vậy, nội dung anh S mượn tiền “thêm” được viết ngay tại mặt sau của hợp đồng vay số tiền 300.000.000 đồng, điều này cho thấy việc bà T trình bày anh S có vay bà T số tiền 300.000.000 đồng là có cơ sở, cụm từ “mượn thêm” thể hiện rõ rằng khoản tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 27/6/2022 vẫn đang tồn tại tại thời điểm ngày 03/9/2022, chưa được trả xong, do anh S đã có nhận được số tiền 300.000.000 đồng vay ngày 27/6/2022 nên mới có nội dung “mượn thêm” tiền được viết vào ngày 03/9/2022.

- Tại phiên toà, anh S thừa nhận nội dung các đoạn tin nhắn zalo do nguyên đơn cung cấp trong hồ sơ vụ án là nội dung cuộc nói chuyện giữa anh S và bà T là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo nội dung đoạn tin nhắn thể hiện anh S xin bán đất được sẽ trả tiền cho bà T. Về nội dung này, tại phiên toà phúc thẩm anh S trình bày do anh vay tiền anh T2 chậm trả nên xin bà T thêm thời gian trả nợ. Lời trình bày của anh S là không phù hợp, có mâu thuẫn trong lời trình bày. Bởi anh S xác định vay số tiền 300.000.000 đồng tại hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 từ anh T2, không vay từ bà T và đã trả xong khoản nợ vào ngày 29/7/2022. Tuy nhiên, nội dung đoạn tin nhắn zalo xin chậm trả nợ của anh S diễn ra vào ngày 30/9/2023, 10/10/2023 sau thời điểm anh S chuyển khoản cho anh T2 329.800.000 đồng ngày 29/7/2022. Việc anh S xin chậm trả nợ sau khi đã trả xong nợ và việc anh S vay tiền từ anh T2 nhưng xin chậm trả nợ đối với bà T là không hợp lý. Mặt khác, tại phiên toà phúc thẩm, anh T2 xác nhận số tiền 300.000.000 đồng anh chuyển khoản cho anh S và 329.800.000 đồng nhận chuyển khoản từ anh S là một giao dịch cho vay khác giữa anh T2 và anh S, không liên quan đến hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 giữa bà T và anh S. Anh S không có chứng cứ chứng minh giữa số tiền anh T2 chuyển khoản cho anh S với hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 có liên quan với nhau. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, giữa anh S và anh T2 có rất nhiều lần chuyển khoản qua lại với nhau trong thời gian dài với nhiều số tiền khác nhau nên lời trình bày của anh T2 là có cơ sở.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ cho rằng anh S có vay tiền bà T chưa trả số tiền là 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022. Toà cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với số tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 27/6/2022 là không phù hợp.

[2.3] Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện của bà T trình bày không yêu cầu tính lãi số tiền vay 300.000.000 đồng, không yêu cầu bà Bùi Thị H liên đới trả nợ số tiền vay 300.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Thu T, xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát; sửa một phần bản án sơ thẩm.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa một phần bản án sơ thẩm nên điều chỉnh lại án phí sơ thẩm theo quy định.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Thu T. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu T đối với anh Bùi Quang S về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  2. Buộc anh Bùi Quang S phải có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Thu T số tiền nợ vay là 491.070.933đ (bốn trăm chín mươi mốt triệu không trăm bảy mươi nghìn chín trăm ba mươi ba đồng), trong đó số tiền vốn vay 470.000.000đ (bốn trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi 21.070.933đ (hai mươi mốt triệu không trăm bảy mươi nghìn chín trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu T về việc yêu cầu anh Bùi Quang S và bà Bùi Thị H liên đới trả số tiền vay ngày 02/10/2023 là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu T về việc buộc bà Bùi Thị H liên đới trả nợ vay cùng anh Bùi Quang S.
  3. Về chi phí tố tụng: Anh Bùi Quang S phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền là 3.320.000đ (ba triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Anh Bùi Quang S đã nộp tạm ứng và quyết toán xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

    Anh Bùi Quang S phải chịu án phí số tiền là 24.553.546đ (hai mươi bốn triệu năm trăm năm mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng).

    Bà Lê Thị Thu T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Lê Thị Thu T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.366.000đ (mười hai triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008078 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Vĩnh Long).

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Lê Thị Thu T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Lê Thị Thu T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004930 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND KV8-VL;
  • - Phòng THADS KV8-VL;
  • - Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2026/DS-PT ngày 19/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 43/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger