|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 42/2026/HS-PT Ngày 19 tháng 01 năm 2026 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Đắc Minh |
| Ông Trần Ngọc Tuấn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.
Vào ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần là trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 301/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Quang T và đồng phạm;
Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T, bị cáo Trần Ngọc C và các bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
- Nguyễn Quang T; sinh ngày: 24/11/1986, tại tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (nay là phường D, tỉnh Vĩnh Long) Chỗ ở hiện nay: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là xã T, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Văn M (chết); họ và tên mẹ: Phạm Thị Tư N (sống); Bị cáo có vợ là Trần Ngọc C (cũng là bị cáo trong vụ án) và có 05 con (lớn nhất sinh năm: 2012, nhỏ nhất sinh năm: 2022); tiền án: không; tiền sự: không, nhân thân: tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/4/2024 đến ngày 07/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T: Bà Nguyễn Thị Quế A, Luật sư Văn phòng Luật sư Trần Văn T1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Trần Ngọc C; sinh ngày: 01/01/1990, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (nay là phường D, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Trần Minh H1 (chết); họ và tên mẹ: Trần Thị B (sống); Bị cáo có chồng là Nguyễn Quang T (cũng là bị cáo trong vụ án) và có 05 con (lớn nhất sinh năm: 2012, nhỏ nhất sinh năm: 2022); tiền án: 01. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2019/HS-ST, ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chưa chấp hành án; tiền sự: không; nhân thân: xấu; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/4/2024 đến ngày 07/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Ngọc C: Bà Trần Thị T2, Luật sư Văn phòng Luật sư Trần Văn T1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị cáo không có kháng cáo:
- Trần Thị Vui X; sinh ngày: 06/3/1993, tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (nay là phường D, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Trần Minh H1 (chết); họ và tên mẹ: Trần Thị B (sống); Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn T3 và có 04 con (lớn nhất sinh năm: 2010, nhỏ nhất sinh năm: 2022); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024 đến ngày 08/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại có kháng cáo:
- Bà Trần Thị Mỹ A1, sinh năm 1976; Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); vắng mặt.
- Bà Trần Thị T4, sinh năm 1986; Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tiến C1, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); vắng mặt.
- Bà Trần Thị B1, sinh năm 1989; Địa chỉ: khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay là phường V, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị B1: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (nay là phường V, thành phố Cần Thơ); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 6 năm 2023, Nguyễn Quang T, cùng vợ là Trần Ngọc C, quen biết với bà Trần Thị Mỹ A1 do cùng bán cá tại chợ phường C, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Sau thời gian quen biết, bà Mỹ A1 nhiều lần giúp đỡ về vốn cho vợ chồng T làm ăn. Lợi dụng sự nhiệt tình giúp đỡ và tin tưởng của bà Mỹ A1, vợ chồng T đưa ra thông tin giả là có người đặt mua lươn, rắn với số lượng lớn nhưng không đủ tiền nên nói bà Mỹ A1 hùn tiền để mua lươn, rắn trung gian cho khách, tiền lời sẽ chia nhau và được bà Mỹ A1 đồng ý. T thu mua lươn, rắn trung được 03 lần: lần đầu 20kg lươn, 15kg rắn trung; lần thứ hai 30kg lươn, 20kg rắn trung; lần thứ ba: 50kg lươn, 30kg rắn trung. Số rắn và lươn mua được T yêu cầu em vợ tên Trần Thị Vui X đem ra chợ bán lẻ, nếu bán không hết thì rộng lại, sau đó T đưa tiền lời cho bà Mỹ A1 đều đặn.
Thấy bà Mỹ A1 ngày càng tin tưởng nên tên T kêu X đóng giả là người cần mua lươn, rắn lấy tên là Nguyễn Thị Thu N1 đến gặp T và bà Mỹ A1 yêu cầu muốn mua nguồn hàng lươn, rắn trung với số lượng lớn với giá cao, cụ thể lươn mua 90.000 đồng bán 120.000 đồng, còn rắn trung mua 120.000 đồng bán 150.000 đồng. Bà Mỹ A1 tin tưởng đưa tiền cho T để mua lươn, rắn, nhưng T không mua lươn, rắn mà sử dụng số tiền này để trả tiền lời bán lươn, rắn ngày trước cho bà Mỹ A1. Sau đó, T kêu Trần Thị Vui X (N1) đặt lượng hàng lớn hơn để bà Mỹ A1 phải hùn tiền nhiều hơn và được T trả tiền lời đều như thỏa thuận. Được khoảng một tuần, bà Mỹ A1 kêu con tên Nguyễn Thị L, giới thiệu thêm bà Trần Thị T4, ông Nguyễn Tiến C1 và Trần Thị B1 hùn tiền đưa cho T mua lươn, rắn bán lại chia lời. Lúc này, Nguyễn Thị L lập nhóm zalo tên “nhóm mua hàng”, do L làm trưởng nhóm, trong nhóm có L, Mỹ A1, “N1” nick là Tiên N2, T nick cá T, C nick là Mai T5, còn C1 và T4 không có trong nhóm zalo.
Thấy nhiều người tin vào hình thức mua bán của mình, T kêu X (N2) chuyển qua thu mua mặt hàng tôm khô, khô mực, mực tươi đề xuất xuất khẩu với giá như sau: tôm khô mua 550.000 đồng bán 750.000 đồng, khô mực mua 950.000 đồng bán 1.250.000 đồng, mực tươi mua 90.000 đồng bán 120.000 đồng, mỗi tuần mới lấy một lần, số lượng lúc đầu 500kg mỗi loại, sau đó tăng dần lên. Để làm cho mọi người tin tưởng, T lấy nick cá T nhắn tin số lượng giao, thời điểm giao hàng và gọi điện thoại kêu X (N2) nhắn Ok đã nhận đủ hàng. Đồng thời, T giao cho C (vợ T) làm sổ theo dõi số lượng khống T nhắn trên nhóm để đối chiếu, tính tiền lãi với bà Mỹ A1 và bà L. Để nhận được tiền từ bà Mỹ A1 và những người hùn vốn, T giới thiệu ông Nguyễn Văn C2 (ở chợ A3 ngàn có dịch vụ chuyển tiền) là người bán hàng cho T để bà Mỹ A1 và những người hùn vốn chuyển tiền cho C2, sau đó T và vợ lại chỗ C2 rút tiền mặt hoặc chuyển tiền lòng vòng rồi rút tiền mặt đưa tiền lãi cho bà Mỹ A1 và những người hùn vốn.
...
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Ngọc C.
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại - bà Trần Thị Mỹ A1, bà Nguyễn Thị L, bà Trần Thị T4, ông Nguyễn Tiến C1 và bà Trần Thị B1; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
2.1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Ngọc C và Trần Thị Vui X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2.1.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 17 (mười bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.
2.1.2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 56; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc C 17 (mười bảy) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2019/HS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Buộc bị cáo Trần Ngọc C phải chấp hành hình phạt chung 19 (mười chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.
2.1.3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Vui X 12 (mười hai) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2024 đến ngày 08/5/2024.
2.2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Ngọc C và Trần Thị Vui X có trách nhiệm liên đới bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 23.422.799.000 đồng (hai mươi ba tỷ bốn trăm hai mươi hai triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn đồng), cụ thể như sau:
- Trả cho bà Trần Thị Mỹ A1 4.287.260.000 đồng.
- Trả cho bà Nguyễn Thị L 9.218.738.000 đồng.
- Trả cho bà Trần Thị T4 3.429.584.000 đồng.
- Trả cho ông Nguyễn Tiến C1 6.269.217.000 đồng.
- Trả cho bà Trần Thị B1 218.200.000 đồng.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - THADS thành phố Cần Thơ; - Công an thành phố Cần Thơ; - Trại tạm giam số 3 Công an thành phố Cần Thơ (để tống đạt cho bị cáo); - Lưu (Án - Trúc). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hoa |
Bản án số 42/2026/HS-PT ngày 19/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 42/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
