TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 41/2026/HS-PT |
|
Ngày: 19/01/2026 |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Quỳnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Điều Văn Hằng; |
| Ông Võ Hồng Sơn. |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư ký viên.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Trần Đăng V, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 667/2025/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Khánh H, Vương Thị H1, Nguyễn Thị Đan M. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS- ST ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và T: Nguyễn Khánh H (tên gọi khác: không có); Sinh ngày: 17 tháng 02 năm 1975, tại Điện Biên. Nơi cư trú: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu (nay là tổ B, phường Đ, tỉnh Lai Châu); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 011175000043, cấp ngày 02/3/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC và TTXH – Bộ C3; Con ông: Nguyễn Công T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); Chồng: Trương Văn T3, sinh năm 1972 (đã ly hôn); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2009; Gia đình bị cáo có 06 anh, chị, em bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L từ ngày 28/02/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Họ và T: Vương Thị H1 (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày: 08 tháng 12 năm 1979, tại thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn D, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội (xã H, thành phố Hà Nội); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 001179003940, cấp ngày 21/4/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC và TTXH - Bộ C3; Con ông: Vương Xuân N, sinh năm 1938 và bà Doãn Thị H2, sinh năm 1945; Chồng: Nguyễn Danh C, sinh năm 1975; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2011; Gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L từ ngày 28/02/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Họ và T: Nguyễn Thị Đan M1 (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày: 07 tháng 3 năm 1975, tại thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Tổ I, phường V, Quận H, thành phố Hà Nội (phường V, thành phố Hà Nội); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 001175000578, cấp ngày 07/5/2022, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC và TTXH - Bộ C3; Con ông: Nguyễn Như Ý (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T4 (đã chết); Chồng: Dương Hồng H3, sinh năm 1967; Con: có 01 con sinh năm 2008; Gia đình bị cáo có 05 anh, chị, em bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L từ ngày 28/02/2025 cho đến nay. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh H: Ông Lò Văn H4 – Luật sư, Công ty L1. Vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Vương Thị H1: Bà Trần Thị H5- Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Đan M1: Ông Phạm Xuân N1- Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/6/2023, biết tin Đỗ Đức M2 (sinh năm 1997, trú tại xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (cũ), nay là xã T, tỉnh Hưng Yên) bị công an phường N, quận B, thành phố Hà Nội tets ma túy dương tính, do có quan hệ thân thiết và là người cùng nhau góp vốn làm ăn nên Ngô Văn C1, sinh năm 1984 trú tại: Xóm G, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên), Nguyễn Quang L, sinh năm 1993, nơi đăng ký HKTT xóm G, xã T, huyện T, tỉnh Thái Nình (cũ), nay là xã T, tỉnh Hưng Yên, nơi ở hiện tại: Căn hộ 11.2429, tòa I1 Imperia Smart City, dự án KĐT mới T, Đại Mỗ - V, phường T, thành phố Hà Nội và Thần Văn T5, sinh năm 1989, Nơi thường trú: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu (nay là Bản N, xã P, tỉnh Lai Châu). Nơi ở hiện tại: tổ B, phường T, tỉnh Lai Châu, đã cùng nhau bàn bạc tìm người giúp M2 không bị xử lý hình sự.
Do quen biết từ trước và nghĩ bị cáo Nguyễn Khánh H có nhiều mối quan hệ, nên Thần Văn T5 đã liên hệ với bị cáo Nguyễn Khánh H nói về việc M2 bị Công an phường N giữ vì test dương tính với ma túy và hỏi bị cáo H có mối quan hệ nào có thể giúp M2 được thả ra trong vòng 09 ngày và không bị xử lý hình sự. Bị cáo H trả lời để bị cáo hỏi thử xem em của bị cáo ở thành phố Hà Nội xem có giúp được không. Sau đó, anh T5 gửi số điện thoại của H cho anh C1 để anh C1 gửi thông tin căn cước công dân của M2 và đơn vị công an bắt M2 cho H để nhờ H giúp M2 được thả ra, không bị xử lý hình sự, H hỏi H1 thì bị cáo H1 trả lời để H1 hỏi bị cáo Nguyễn Thị Đan M1. Do bị cáo H1 là chị em kết nghĩa với bị cáo M1 nên biết bị cáo M1 có người thân làm trong ngành Công an nên bị cáo H1 liên lạc và gửi thông tin căn cước công dân của M2 và thông tin đơn vị Công an bắt M2 cho M1 và nhờ M1 giúp M2 không bị xử lý hình sự thì M1 trả lời để M1 đi tìm hiểu xem thế nào.
Ngày 22/6/2023, sau khi M1, H1 đưa ra thông tin có nhiều mối quan hệ quen biết với người có chức vụ quyền hạn có thể giúp M2 không bị xử lý hình sự thì bị cáo H liên hệ với T5 nói đã liên hệ được người giúp M2 để T5 tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo H lo việc cho M2. Sau đó T5, L, C1 thống nhất lấy 1.100.000.000 đồng tiền làm ăn của M2 (đang có trong tài khoản của L) để đưa cho bị cáo H. Ngày 23/6/2023, số tiền 1.100.000.000 đồng được chuyển qua nhiều tài khoản trung gian (L chuyển cho C1 chuyển cho T5) đến tài khoản ngân hàng của bị cáo Nguyễn Khánh H. Cùng ngày bị cáo H chuyển 1.099.000.000 đồng (do tài khoản của Nguyễn Khánh H đã sử dụng 01 triệu đồng để thanh toán tiền điện nước) cho bị cáo Vương Thị H1. Nhận được tiền, bị cáo H1 nói với bị cáo M1 là H đã nhận 1.100.000.000 đồng gia đình M2 và C1 chuyển cho H1 để giúp M2 và bị cáo H1 chuyển trước 500.000.000 đồng cho bị cáo M1, đồng thời hứa hẹn H, M1 và H1 sẽ có phần nếu giúp được M2.
Sau đó, bị cáo M1 đến Công an phường N để tìm hiểu mới biết M2 bị bắt về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chứ không phải bị Công an phường giữ vì test dương tính với ma túy, nên phải xử lý M2 theo quy định chứ không thể thả ra được. Bị cáo M1 liên lạc với bị cáo H1 nói là rất khó xin cho M2, nhưng bị cáo H1 vẫn bảo bị cáo M1 cố gắng tìm mối quan hệ để giúp cho M2 được thả ra ngoài.
Đến ngày 27/6/2023, bị cáo H liên hệ với anh T5 nêu lý do cần mua quà để cảm ơn những người giúp M2 nên H yêu cầu T5 chuyển thêm cho bị cáo H 20.000.000 đồng. Cùng ngày, số tiền 20.000.000 đồng được chuyển qua nhiều tài khoản trung gian từ của L chuyển cho C1 chuyển cho T5 chuyển đến tài khoản ngân hàng của bị cáo Nguyễn Khánh H (các bị cáo H1, M1 không biết việc nhận 20.000.000 đồng trên của bị cáo H). Sau khi nhận được tiền, bị cáo H đã chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi chuyển tiền cho bị cáo H nhưng không thấy Đỗ Đức M2 được thả tự do nên T5, C1 nhiều lần liên lạc cho bị cáo H hỏi tình hình việc của M2, bị cáo H trả lời là việc này bị cáo H không biết vì bị cáo H không làm trực tiếp mà đang nhờ các bị cáo H1, M1 giúp. Bị cáo H cho anh T5 và anh C1 số điện thoại của bị cáo H1 để tự trao đổi. Anh C1 nhiều lần liên lạc cho bị cáo H1 hỏi việc của M2 thì được bị cáo H1 cho số điện thoại của bị cáo M1 để anh C1 trực tiếp liên lạc.
Đến ngày 30/6/2023, do không thấy M2 được thả ra ngoài nên T5, C1 và L hẹn gặp các bị cáo H, M1 tại Hà Nội. Khi gặp nhau thì bị cáo M1 nói là rất khó giúp M2 được thả ra ngoài và bảo để sáng ngày hôm sau bị cáo M1 đi hỏi lại. Đến sáng hôm sau, bị cáo M1 đưa bị cáo H, T5, L, C1 đến trụ sở Cục C4 - Bộ C3. Bị cáo M1 đi vào bên trong còn bị cáo H, T5, L, C1 ở ngoài đường chờ. Một lúc sau, bị cáo May ra ngoài nói với bị cáo H, L, T5, C1 là không giúp M2 trắng án được mà vẫn phải có án nên T5, L, C1 yêu cầu các bị cáo H, H1, M1 trả lại tiền. Số tiền nhận của T5, C1, L, các bị cáo H, bị can H1, bị cáo M1 sử dụng để chi tiêu cá nhân và không đưa cho người có chức vụ quyền hạn nào để giúp M2.
Sau nhiều lần bị đòi tiền, ngày 02/7/2023, bị cáo H1 chuyển khoản cho bị cáo H 300.000.000 đồng để trả gia đình M2, bị cáo H chuyển trả cho T5 200.000.000 đồng và giữ lại 100.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Số tiền còn lại, bị cáo H1 nói với bị cáo H lấy tiền mà bị cáo H đang nợ bị cáo H1 ra mà trả cho gia đình M2 (do các bị cáo H1, H làm ăn chung nên bị cáo H còn nợ bị cáo H1 khoảng 3 tỷ đồng) nhưng H không đồng ý và nói là tiền nào ra tiền đó. Bị cáo H1 nói với bị cáo M1 là H1 chịu trách nhiệm trả lại cho gia đình M2 500.000.000 đồng, M1 làm ăn khi nào có thì trả lại cho bị H1 sau.
Bản án số 225/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử Đỗ Đức M2 24 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2023.
Sau nhiều lần liên lạc với bị cáo H để đòi tiền nhưng bị cáo H trốn tránh không trả nên giữa năm 2024, T5, C1 và bà Phạm Thị G, sinh năm 1974, trú tại xã T, tỉnh Thái Bình (mẹ của Đỗ Đức M2) đến trang trại của bị cáo H ở thành phố L để đòi lại tiền. Bị cáo H thỏa thuận với T5, C1 và bà G viết giấy nợ với T5 và hứa hẹn H sẽ trả đủ số tiền còn lại cho T5 trong vòng 1-2 tháng. Sau đó, bị cáo H đã chuyển khoản trả cho bà G tổng cộng 100.000.000 đồng. Do bị cáo H không trả đủ tiền 1.120.000.000 đồng nên ngày 13/01/2025, T5, C1, L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tố giác bị cáo H về hành về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu đã quyết định
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật HìnhĐiều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tốhình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử phạt Nguyễn Khánh H 12 năm 06 tháng (mười hai năm sáu tháng) tù, bị cáo Vương Thị H1 12 năm (mười hai năm) tù, bị cáo Nguyễn Thị Đ May 12 năm (mười hai năm) tù đều về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với các bị cáo tính từ ngày 28/02/2025.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2025, các bị cáo Nguyễn Khánh H, Vương H1, Nguyễn Thị Đ May có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị cáo Nguyễn Khánh H trình bày biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo trình bày H1 chỉ chuyển cho các bị cáo 300 triệu đồng, không phải 600 triệu đồng như lời khai của bị cáo H1. Bị cáo H mới chỉ chuyển lại cho phía gia đình người bị hại 200 triệu, vì nghĩ là khi nào các bị cáo khác chuyển hết số tiền thì chuyển cho người bị hại luôn thể. Bị cáo thừa nhận bị cáo trước đó có nợ bị cáo H1 khoảng 3 tỷ đồng. Bị cáo Hòa đồng Ý1 xét xử vắng mặt Luật sư.
Bị cáo Vương Thị H1 trình bày bị cáo H1 không trực tiếp nhận tiền của bị hại, bị cáo chỉ giúp H liên hệ với M1 để nhờ M1 lo cho anh M2 được tha, khi bị cáo M1 không nhờ được cho anh M2 thì bị cáo đã đưa lại cho H 600 triệu đồng (300 triệu đồng chuyển khoản và 300 triệu đồng do chồng bị cáo gửi cho bị cáo H), còn 500 triệu bị cáo đưa cho M1. Bị cáo H1 có nói với bị cáo H lấy tiền bị cáo H còn nợ của bị cáo H1 để trả cho bị hại nhưng bị cáo H đã không trả. Khi bị cáo H chuyển tiền cho bị cáo M1, bị cáo chỉ chuyển cho bị cáo M1 500 triệu đồng nhưng có nói với bị cáo M1 là H đã chuyển tiền cho bị cáo, nên nếu M1 cần thêm thì bị cáo H1 sẽ chuyển tiền tiếp cho bị cáo M1, xong việc thì M1, H1 và H cũng sẽ có phần.
Bị cáo Nguyễn Thị Đan M1 thừa nhận hành vi nhận 500 triệu đồng từ bị cáo H1 để lo cho anh M2, khi không lo được thì đã đưa cho bị cáo H1 300 triệu đồng, còn 200 triệu đồng bị cáo giữ lại. Bị cáo M1 trình bày việc giữ lại 200 triệu đồng vì anh L có nói cho bị cáo số tiền trên để lo việc.
Các bị cáo trình bày đã rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, kính mong Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo sớm trở về với gia đình, sớm được làm công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Luật sư bào Hòa C2 cho bị cáo Vương Thị H1 đồng tình với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Luật sư N1 xác định bị cáo M1 có tội nhưng bị cáo M1 đã chuyển cho H1 để chuyển trả cho bị hại 300 triệu và có bằng khen của Hội sinh vật cảnh, có bố chồng bị cáo thờ cúng liệt sẽ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho các bị cáo, cụ thể giảm nhẹ cho bị cáo M1 và bị cáo H mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, giảm nhẹ cho bị cáo H1 từ 18 đến 24 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 10/10/2025, các bị cáo Nguyễn Khánh H, Vương Thị H1, Nguyễn Thị Đan M1 có đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu là đúng thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh H vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt Luật sư. Bị cáo Hòa đồng Ý1 xét xử vắng mặt người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án là đúng quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Khánh H, Vương Thị H1, Nguyễn Thị Đ May xác định Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, khi trình bày về hành vi phạm tội thì các bị cáo lại chỉ thừa nhận việc có nhận tiền của Thần Văn T5, Nguyễn Quang L, Ngô Văn C1 để lo cho Đỗ Đức M2, không thừa nhận có mục đích chiếm đoạt số tiền trên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Ngày 23/6/2023, các bị cáo Nguyễn Khánh H, Vương Thị H1, Nguyễn Thị Đan M1 tự đưa ra thông tin gian dối có nhiều mối quan hệ với người có chức vụ có thể giúp Đỗ Đức M2 không bị công an xử lý để Thần Văn T5, Nguyễn Quang L, Ngô Văn C1 (người quen của anh M2) tin tưởng chuyển tiền 1.100.000.000 cho các bị cáo nhưng sau đó các bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân, không đưa tiền cho bất kỳ ai để lo cho M2; khi Thần Văn T5, Nguyễn Quang L, Ngô Văn C1 rất nhiều lần đòi lại tiền thì các bị cáo chỉ trả lại 300 triệu đồng. Với những hành vi trên đã đủ căn cứ xác định mục đích chiếm đoạt của các bị cáo H, H1 và M1. Hành vi nêu trên của các bị cáo H, Hằng M3 đủ yếu tố cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: bị cáo Phạm Thị Khánh H6 là người đưa ra thông tin gian dối, trực tiếp lấy tiền của Thần Văn T5, Nguyễn Quang L, Ngô Văn C1, nên phải có trách nhiệm trực tiếp bồi thường cho các bị hại. Ngoài số tiền 1.100.000.000, bị cáo H6 sau đó còn tiếp tục nói dối để T5, L, C1 chuyển thêm cho H6 20.000.000 đồng. Khi không giúp được cho M2, T5, L, C1 đòi tiền các bị cáo, bị cáo H1 chuyển lại cho bị cáo H6 300 triệu đồng để trả cho bị hại thì bị cáo H6 còn tiếp tục giữ lại 100 triệu đồng chi tiêu cá nhân, chỉ chuyển trả các bị hại 200 triệu đồng. Như vậy, trong vụ án này, bị cáo H6 là người chịu trách nhiệm với số tiền chiếm đoạt nhiều nhất, giữ vai trò cao nhất và hành vi của bị cáo H6 có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn các bị cáo H1 và M3. Bị cáo M3 là người nhận mình có quan hệ quen biết và trực tiếp là người nhận trách nhiệm liên hệ và cầm tiền để chạy án cho M2. Bị cáo H1 chỉ giữ vai trò là người trung gian. Do đó, vai trò của bị cáo M3 cao hơn bị cáo H1, bị cáo H1 có vai trò thấp nhất trong vụ án.
[5] Xem xét hình phạt và đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì bị cáo Nguyễn Khánh H 02 lần thực hiện hành vi phạm tội. Lần thứ nhất, vào ngày 23/6/2023, bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối, bị cáo đã chiếm đoạt 1.100.000.000 đồng của các bị hại; lần thứ hai, ngày 27/6/2023 bị cáo tiếp tục đưa thông tin gian dối, cần mua quà cảm ơn giúp M2 không bị xử lý để chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của các bị hại trong vụ án. Mỗi lần bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo H1, M3 không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, mặc dù các bị cáo cho rằng mình không có mục đích chiếm đoạt nhưng đều thành khẩn khai báo về hành vi mà mình thực hiện, tỏ thái độ ăn năn hối cải; sau khi thực hiện tội phạm các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho những người bị hại, được bị hại đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Khánh H có bố là ông Nguyễn Công T1 và mẹ là bà Nguyễn Thị T2 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, ngoài ra bị cáo Nguyễn Khánh H còn được Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lai Châu tặng Giấy khen. Bị cáo Vương Thị H1 có bố là ông Vương Xuân N được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Nhất, bị cáo H1 còn được Chủ tịch UBND xã T tặng Giấy khen. Bị cáo Nguyễn Thị Đan M1 có bố là ông Nguyễn Như Ý và mẹ là bà Nguyễn Thị T4 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo Nguyễn Khánh H, Nguyễn Thị Đan M1 đã có những hành động phối hợp với cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh L cứu giúp phạm nhân có ý định tự làm bị thương bản thân để kịp thời xử lý theo quy định của pháp luật và Trại tạm giam Công an tỉnh L có văn bản đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Nguyễn Khánh H, Nguyễn Thị Đan M1.
[6] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Vương Thị H1 đã nộp đủ số tiền án phí hình sự sơ thẩm thể hiện thái độ chấp hành nghiêm túc bản án; bị cáo Nguyễn Thị Đan M1 nộp bổ sung các tình tiết giảm nhẹ tiếp tục thể hiện có gia đình chồng là gia đình có công với cách mạng và các giấy khen, bằng khen của Hội S là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo H, H1, M1 để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, như đã phân tích ở đoạn [4] phần Nhận định trên, các bị cáo H và M1 giữ vai trò cao hơn bị cáo H1 trong vụ án, nên bị cáo H và Đan M1 phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H1.
[7] Đối với ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Đ May đề nghị áp dụng thêm các điểm x, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì bố chồng của bị cáo M1 đang thờ cúng liệt sỹ và nhà vườn của bị cáo M1 được Hội S tặng bằng khen là không có căn cứ chấp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của các Nguyễn Khánh H, Nguyễn Thị Đ May bị cáo Vương Thị H1 được chấp nhận nên các bị cáo H, H1, M1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vương Thị H1, Nguyễn Khánh H, Nguyễn Thị Đan M1.
- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu về phần quyết định hình phạt đối với các bị cáo Vương Thị H1, Nguyễn Khánh H, Nguyễn Thị Đan M1.
Tuyên xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật HìnhĐiều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tốtụng hình sự,
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh H 11 năm 06 tháng tù (mười một năm sáu tháng tù) về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2025.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đan M1 11 năm tù (mười một năm tù) về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2025.
- - Xử phạt bị cáo Vương Thị H1 09 năm tù (chín năm tù) về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2025.
Ghi nhận tại cấp phúc thẩm, bị cáo Vương Thị H1 đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0000009 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Khánh H, Nguyễn Thị Đan M1, Vương Thị H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Võ Hồng Sơn | Điều Văn Hằng | Trần Thị Quỳnh |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Quỳnh |
Bản án số 41/2026/HS-PT ngày 19/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 41/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo đã bồi thường toàn bộ, ăn năn hối cải, nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
