TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2026/DS-PTNgày: 16/01/2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Bà Đào Thị Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 490/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 72/2025/DSST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 833/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1948; địa chỉ: Số G, ấp T, xã C, thành phố Cần Thơ; có mặt.
- Bị đơn:
- Bà Huỳnh Thị Yến C, sinh năm 1960; có mặt.
- Bà Lưu Ngọc Gia H, sinh năm 1998; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số C, đường N, ấp T, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1977; địa chỉ: Số G, ấp T, xã C, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Ngày 20/02/2020, bà Huỳnh Thị Yến C và con gái là bà Lưu Thị Gia H1 đến nhà bà để mượn số tiền 200.000.000 đồng. Mục đích của việc mượn tiền là để lo tiền cho con gái Gia H1 đi học trường Cảnh sát nhưng lúc đó bà N không có tiền nên có gọi điện thoại cho ông Nguyễn Duy K để mượn số tiền 200.000.000 đồng. Sau đó thì ông K có đem đến nhà bà số tiền 200.000.000 đồng, có mặt bà Huỳnh Thị Yến C và Lưu Thị Gia H1, đồng thời giao số tiền trên cho bị đơn nhưng giữa các bên không có làm biên nhận.
Số tiền bà N mượn ông K thì bà N đã trả đủ nhưng đến hiện tại thì bị đơn vẫn chưa trả số tiền trên cho bà. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu các bị đơn phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thị Yến C trình bày:
Bà không có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Hồng N nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Lời trình bày của bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Nguyễn Duy K trong bản tự khai ngày 12/6/2025 là không đúng sự thật vì từ trước đến nay bà và con bà là Lưu Ngọc Gia H không có mượn tiền bà N. Đồng thời, không có sự việc ngày 20/02/2020, mẹ con bà đến nhà bà N để mượn 200.000.000 đồng và ông K mang tiền đến nhà bà N để đưa tiền cho bà N mượn sau đó bà N đưa tiền cho bị đơn mượn là không đúng. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Bị đơn bà Lưu Ngọc Gia H trình bày: Bà không có vay số tiền 200.000.000 đồng từ bà N và cũng không liên quan gì đến bà Nguyễn Thị Hồng N, việc bà N khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền 200.000.000 đồng là không có cơ sở nên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 26/8/2025, người làm chứng ông Nguyễn Duy K trình bày:
Ngày 19/02/2020, bà Nguyễn Thị Hồng N có điện thoại cho ông để hỏi vay số tiền 200.000.000 đồng. Mục đích của việc vay tiền là cho bà Huỳnh Thị Yến C và bà Lưu Ngọc Gia H vay lại. Tuy nhiên, ông không có đủ tiền vào thời điểm đó nên có hẹn lại khoảng hai ngày sau sẽ giao tiền.
Ngày 20/02/2020, ông có đến nhà nguyên đơn để giao tiền nhưng khi đến thì chỉ thấy nguyên đơn, không nhìn thấy bị đơn. Sau khi giao đủ số tiền 200.000.000 đồng cho bà N thì ông đi về. Việc nguyên đơn có giao lại số tiền đó cho bị đơn hay không thì ông không biết. Hiện nay thì nguyên đơn đã thanh toán đủ cho ông số tiền đã vay.
Do không thỏa thuận được cách giải quyết nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 72/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc các bị đơn bà Huỳnh Thị Yến C và bà Lưu Ngọc Gia H phải trả số tiền 200.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 4 tuyên xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N1 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N vẫn yêu cầu bị đơn trả cho bà 200.000.000 đồng.
Phía bị đơn bà Huỳnh Thị Yến C cho rằng bà không có mượn tiền của bà N nên không đồng ý trả.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng bị đơn có mượn 200.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không chứng minh được biên nhận của bị đơn. Bị đơn không thừa nhận có mượn tiền nguyên đơn. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng ngày 20/02/2020, bà Huỳnh Thị Yến C và con gái là bà Lưu Thị Gia H1 đến nhà bà để mượn số tiền 200.000.000 đồng, nhưng lúc đó bà N không có tiền nên có gọi điện thoại cho ông K để mượn số tiền 200.000.000 đồng. Ông K đưa cho bà số tiền trên nên bà giao lại cho bị đơn. Lúc giao tiền bà không buộc bị đơn làm biên nhận. Phía bị đơn bà C thì cho rằng bà không có mượn tiền của nguyên đơn. Ông K thì cho rằng: Ông có đưa cho bà N vay 200.000.000 đồng, đến nay bà N đã trả đủ cho ông. Việc bà N có cho bị đơn vay ông chứng kiến nguyên đơn có đưa tiền cho bị đơn số tiền ông đưa cho bà N. Tuy nhiên, trong bản khai sau thì ông K có lời khai khác nhau.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng cho bị đơn vay 200.000.000 đồng nhưng không có căn cứ chứng minh. Nguyên đơn không xuất trình được biên nhận bị đơn có vay của nguyên đơn. Hơn nữa, bị
đơn không thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn. Người làm chứng là ông Nguyễn Duy K trong biên bản ghi khai ngày 12/6/2025 và biên bản ghi khai ngày 26/8/2025 có sự mâu thuẫn trong lời khai. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới. Bản án sơ thẩm tuyên là có cơ sở nên giữ nguyên.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn do là người cao tuổi.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 8, Điều 274, Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc các bị đơn bà Huỳnh Thị Yến C và bà Lưu Ngọc Gia H phải trả số tiền 200.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N được miễn toàn bộ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 40/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 40/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Hồng N khởi kiện đòi nợ bà Huỳnh Thị Yến C
