|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Số: 39 /2026/QĐST-DS Ngày 14/01/2026 V/v : Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Trần Thị Thúy Hà - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Chu Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 1359/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025 về yêu cầu "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự" theo Quyết định mở phiên họp số: 894/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025 giữa :
-Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Trần Tuấn P, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Tổ A phường V, thành phố Hà Nội
Đối với bà Trần Thị Mai H, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Tổ A phường V, thành phố Hà Nội
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Mai Thị L, sinh năm 1947
Nơi cư trú: Tổ A phường V, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu ông Trần Tuấn P trình bày: Chị gái tôi là Trần Thị Mai H - sinh ngày: 11/08/1974; Địa chỉ: Tổ A, phường V, thành phố Hà Nội.
Khi sinh ra chị gái tôi Trần Thị Mai H hoàn toàn bình thường, nhưng đến khoảng năm 18 tuổi, đột ngột bị bệnh dẫn đến tâm trí không bình thường, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, nói chuyện một mình, gia đình đã nhiều lần đưa đi khám chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Đến năm 2012, chị gái tôi được Bệnh viện T2 chuẩn đoán bệnh và cấp Giấy chứng nhận ngày 02/05/2012 là mắc bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng và không có khả năng lao động kiếm sống, không có khả năng tự phục vụ bản thân, sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình. Từ khi được chuẩn đoán bệnh đến nay, nhiều năm qua gia đình vẫn chạy chữa chữa, tuy nhiên bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Chị gái tôi thường xuyên phải thực hiện điều trị trực tiếp tại bệnh viện T2. Tình trạng hiện nay của chị gái tôi đó là không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, lúc nhớ lúc quên, nhiều khi không nhận được mẹ, em trai cùng với các con cháu trong gia đình, hàng xóm và hay nói linh tinh, không phân biệt được thời gian ban ngày hay ban đêm, không tự ý thức được hành động và lời nói, hàng ngày việc chăm sóc tắm rửa, ăn uống sinh hoạt đều do mẹ tôi-bà Mai Thị L chăm sóc. Mặt khác, mọi giao dịch liên quan đến việc khám chữa bệnh, nhận trợ cấp từ nhà nước,....đều do tôi thực hiện.
Vì vậy đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tuyên bố : Bà Trần Thị Mai H -sinh ngày: 11/08/1974; Địa chỉ: Tổ A, phường V, thành phố Hà Nội là người mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời đề nghị Tòa án chỉ định tôi Trần Tuấn P là người giám hộ, người đại diện theo pháp luật của bà Trần Thị Mai H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị L ( mẹ của bà H và ông P )có ý kiến:
Thống nhất quan điểm với ông Trần Tuấn P về quan hệ gia đình cũng như bệnh tật của bà Trần Thị Mai H. Ông Trần Tuấn P đề nghị Tòa án tuyên bố bà H mất năng lực hành vi Dân sự, bà đồng ý. Do bà Trần Thị Mai H không có chồng, con nên bà và ông Trần Tuấn P thống nhất và đề nghị Tòa án chỉ định ông Trần Tuấn P là người giám hộ, đại diện theo pháp luật cho bà Trần Thị Mai H. Bà Mai Thị L đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ việc, vì lý do bà đã tuổi cao đi lại khó khăn.
Tại phiên họp ông Trần Tuấn P vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Mai H mất năng lực hành vi dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu cho đến khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục giải quyết việc dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.
- Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Trần Tuấn P tuyên bố bà Trần Thị Mai H mất năng lực hành vi dân sự nhận thấy : Ngày 20/11/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội ra Quyết định Trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ gửi Viện pháp y Tâm thần Trung ương B tiến hành thực hiện việc Giám định đối với bà Trần Thị Mai H. Căn cứ Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 505/KL-VPYTW ngày 24/12/2025 của Viện pháp y Tâm thần Trung ương B để giám định sức khỏe tâm thần. Quá trình thăm khám tiếp xúc thấy: Đối tượng tiếp xúc hạn chế, trang phục lôi thôi; còn định hướng bản thân, rối năng lực định ướng không gian và thời gian; cảm xúc cùn mòn; tri giác không ảo tưởng, ảo giác; tư duy nhịp chậm, ngồi nói một mình; ngôn ngữ nghèo nàn, kém liên quan, không hoang tưởng, ám ảnh, định kiến; trí nhớ: khả năng tiếp thu, lưu trữ, tái hiện thong tin giảm sút; trí tuệ: không có khả năng phân tích, đánh giá; chú ý: Tập trung giảm; hành vi tác phong bị rối loạn, dị kỳ khó hiểu, hay đi lang thang ngoài đường không mục đích, ít tiếp xúc với xung quanh, lười vệ sinh thân thể, mọi sinh hoạt hàng ngày phụ thuộc hoàn toàn vào sự giúp đỡ của người thân. Kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Trần Thị Mai H bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F20.5, giai đoạn sa sút tâm thần. Hiện nay, đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3- Hà Nội căn cứ khoản 1 Điều 22, Điều 47, Điều 48, điều 49 của Bộ luật dân sự và khoản 1 điều 149 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu ông Trần Tuấn P, tuyên bố bà Trần Thị Mai H mất năng lực hành vi dân sự
Về việc cử người giám hộ cho bà Trần Thị Mai H: Bà Trần Thị Mai H không có vợ, không có con, bà Mai Thị L và ông Trần Tuấn P thống nhất ông Trần Tuấn P là em trai là Trần Thị Mai H là người giám hộ đồng thời là người đại diện theo pháp luật của bà Trần Thị Mai H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Trần Tuấn P yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Mai H mất năng lực hành vi dân sự, đây là yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 BLTTDS; Bà Trần Thị Mai H trước khi giám định sức khỏe tâm thần tại Viện pháp y Tâm thần Trung ương B cư trú tại Tổ A phường V, Hà Nội nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội có thẩm quyền giải quyết việc dân sự trên theo quy định tại khoản 1 điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 và điều 361 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên họp: Bà Mai Thị L là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào khoản 3 điều 367 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bà Mai Thị L.
[2] Về yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Xét yêu cầu của ông Trần Tuấn P đề nghị Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Mai H mất năng lực hành vi Dân sự nhận thấy: Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Bà Trần Thị Mai H là con thứ 2 trong gia đình, quá trình phát triển về thể chất và tâm thần từ nhỏ đến lớn phát triển bình thường; bà H có không có chồng, không có con. Tiền sử bệnh tật trong gia đình không ai mắc bệnh tâm thần. Bà Trần Thị Mai H khởi phát bệnh từ năm 18 tuổi với các biểu hiện: Đêm không ngủ, thường xuyên bỏ nhà đi làng thang, nói chuyện một mình, gia đình nhiều lần đưa đi khám chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Đến năm 2012, đối tượng được gia đình đưa đến Bệnh viện T2, được chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng. Từ đó đến nay, bệnh tình vẫn không thuyên giảm, không còn nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, trí nhớ suy giảm, nói luyên thuyên một mình, không phân biệt được thời gian ngày và đêm, mọi sinh hoạt hàng ngày đều phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình.
Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số: 505/KL-VPYTW ngày 24/12/2025 của Viện pháp y Tâm thần Trung ương B kết luận: " Tại thời điểm giám định đối tượng Trần Thị Mai H bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F20.5, giai đoạn sa sút tâm thần. Hiện nay, đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi".
Căn cứ vào đơn yêu cầu của ông Trần Tuấn P, lời khai của bà Mai Thị L và những tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ vào kết luận giám định sức khỏe tâm thần số: 505/KL-VPYTW ngày 24/12/2025 của Viện pháp y Tâm thần Trung ương B, nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Trần Tuấn P về việc tuyên bố bà Trần Thị Mai H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ luật dân sự.
Xét yêu cầu của ông Trần Tuấn P và bà Mai Thị L đề nghị Tòa án chỉ định ông Trần Tuấn P là người giám hộ, đại diện theo pháp luật cho bà Trần Thị Mai H, nhận thấy: Bà Trần Thị Mai H không có chồng, con; ông Trần Tuấn P là em trai của bà Trần Thị Mai H. Xét ông Trần Tuấn P có đủ năng lực hành vi Dân sự, có đủ điều kiện để làm người giám hộ theo quy định tại điều 49 Bộ luật Dân sự nên việc chỉ định ông Trần Tuấn P là người giám hộ cho bà Trần Thị Mai H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 54 Bộ luật Dân sự 2015.
[3] Về nghĩa vụ chịu lệ phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (mục 1 phần I Danh mục lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016) ông Trần Tuấn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 22, điểm d khoản 1 Điều 47, khoản 1 điều 48; khoản 1 điều 49; khoản 1 Điều 53; khoản 1 điều 54; khoản 1 Điều 57, khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 59 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 27; Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Khoản 1 Điều 376, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Tuấn P về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Tuyên bố bà Trần Thị Mai H - sinh ngày 11/8/1974 ; Nơi cư trú: Tổ A phường V, Hà Nội mất năng lực hành vi dân sự.
-
Ông Trần Tuấn P, sinh ngày 25/12/1975; nơi cư trú: Tổ A phường V, thành phố Hà Nội là Người giám hộ và là Người đại diện theo pháp luật của bà Trần Thị Mai H.
Ông Trần Tuấn P được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Người giám hộ và Người đại diện theo pháp luật cho bà Trần Thị Mai H theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Tuấn P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017067 ngày 20/11/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3- Hà Nội.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Hà |
7
hạnh phúc đến khoảng năm 2010 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, không tin tưởng nhau trong cuộc sống. Bà T1 sống với ông N và người nhà anh N gồm: Bố mẹ, các em ruột ông N không đúng lễ nghi đạo đức, báo hiếu với mẹ anh N, sống với bản thân ông N không có trách nhiệm, không vì sự nghiệp của ông N, đi nói xấu ông N với người ngoài. Bà T1 nói với mọi người rằng ông N vô tích sự, rượu chè, gái gú, làm mất danh dự của ông N. Bà T1 cho em ruột vay số tiền lớn khoảng 800 triệu đồng mà không đòi lại được. Việc bà T1 tự ý cho em gái vay một số tiền lớn như vậy ông N không hề hay biết. Đây chính là nguyên nhân làm mất danh dự của ông N, làm cả nhà lâm vào tình trạng khốn cùng nên từ tháng 6 năm 2024, ông N dọn ra khỏi nhà, sinh sống tại địa chỉ khác. Ông N đi ở nhờ nhà của bạn bè và ở lại cơ quan làm việc, không ở cùng với bà T1 và các con. Trước đây, ông N đã làm đơn ly hôn bà T1 tại Tòa án quận H nhưng sau đó rút đơn ly hôn về nhưng vợ chồng không cải thiện được tình cảm, vẫn sống ly thân mỗi người ở một nơi.
Nay, ông N xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông N xin được ly hôn bà T1 để ổn định cuộc sống. Do ông N không còn tình cảm với bà T1 và không thể tiếp tục chung sống với bà T1 nên ông N đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa mà giải quyết ly hôn để ông N ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Ông N xác nhận ông và bà T1 có 02 con chung là Bùi Khánh T, sinh ngày 04/02/2003 và Bùi Lê Tường A, sinh ngày 13/11/2007. Khi ly hôn, do cháu T đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Tường A, do cháu Tường A muốn ở với bà T1 nên ông N đồng ý để bà T1 nuôi cháu Tường A.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông N xin cấp dưỡng nuôi cháu Tường A mỗi tháng 6.000.000 đồng.
- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Lê Thị Ngọc T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Bùi Đăng N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/12/2001 tại UBND L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn ông, bà chưa ai kết hôn lần nào.
Sau khi kết hôn, ông bà ở tại số A, ngõ C, phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến khoảng tháng 05 năm 2024 thì ông N làm đơn xin ly hôn bà T1. Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã hòa giải để ông N rút đơn về, vợ chồng đoàn tụ với nhau. Tuy nhiên, ông N vẫn không chịu về nhà ở và không có thiện chí hàn gắn. (ông N đã tự ý bỏ ra ngoài sống từ ngày 07/6/2024 đến nay vẫn chưa về nhà). Bà T1 và hai con đã thuyết phục ông N về nhà ở rất nhiều lần nhưng ông N vẫn không chịu về và đến nay lại tiếp tục nộp đơn xin ly hôn bà T1. Bà T1 không đồng ý ly hôn ông N vì bà vẫn yêu gia đình và thương các con, bà T1 trân trọng tình nghĩa vợ chồng 23 năm và muốn giữ gia đình cho các con, bà tin vào phẩm chất tốt đẹp của ông N và nền tảng hôn nhân vững chắc mà ông bà đã có. Nguyên nhân ông N đòi ly hôn, ly thân và cư xử tuyệt tình với mẹ con bà là do ông N đã ngoại tình. Bà T1 không cho phép người thứ ba được ngang nhiên vào để cướp chồng, phá nát gia đình. Bà T1 không đồng tình việc làm sai trái của ông N là hành vi ngoại tình và cư xử tàn nhẫn với vợ con, vu khống và đổ lỗi cho bà để tìm cách ly hôn.
Bà T1 không đồng ý với tất cả các thông tin mà ông N nói về bà ở trên vì nó không đúng sự thật.
- Về con chung: Bà T1 xác nhận bà và ông N có hai con chung Bùi Khánh T, sinh ngày 04/02/2003 và Bùi Lê Tường A, sinh ngày 13/11/2007. Do cháu T đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Tường A đang học lớp 12 tại Trường P1, Hà Nội. Nếu phải ly hôn bà T1 xin nuôi cháu Tường A và yêu cầu ông N cấp dưỡng mỗi tháng 10.000.000 đồng.
- Về tài sản chung (động sản + bất động sản): Bà T1 không đồng ý ly hôn ông N nên không có ý kiến về vấn đề tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà T1 không đồng ý ly hôn ông N nên không có ý kiến về vấn đề nợ chung.
* Tại phiên tòa:
Ông Bùi Đăng N vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc T1 và để bà T1 được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Bùi Lê Tường A, sinh ngày 13/11/2007;Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông N xin cấp dưỡng nuôi cháu Tường A mỗi tháng 6.000.000 đồng;Về tài sản chung: Ông N không yêu cầu Toà án giải quyết; Về nợ chung:Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà T1 vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn ông N .Trường hợp nếu phải ly hôn bà xin nuôi cháu Tường A, đề nghị ông N đóng góp 10.000.000 đồng / tháng để nuôi con chung
Về tài sản, nhà ở : Bà T1 không yêu cầu Toà án giải quyết
Về nợ chung : Bà T1 không yêu cầu Toà án giải quyết
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của HĐXX và những người tham gia tố tụng:
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý đơn xin ly hôn của ông Bùi Đăng N đối với bà Lê Thị Ngọc T1 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS. Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 195, 196, 197 Bộ luật TTDS; Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án giải quyết đúng thời hạn chuẩn bị xét xử.
Tại phiên tòa, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH quy định về án phí năm 2016:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Đăng N về việc xin ly hôn với bà Lê Thị Ngọc T1.
Về con chung: Do cháu T đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên không xem xét; cháu Tường A có nguyện vọng được sống cùng mẹ, vì vậy giao cháu Bùi Lê Tường A, sinh ngày 13/11/2007 cho bà Lê Thị Ngọc T1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Bùi Đăng N thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Bùi Lê Tường A 6.000.000 đồng mỗi tháng kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về khoản nợ chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Ông Bùi Đăng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Bùi Đăng N có đơn xin ly hôn đối với bà Lê Thị Ngọc T1 có nơi thường trú và nơi cư trú tạisố A, ngõ C, phố Đ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 05/12/2001 tại UBND phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Do vậy HĐXX nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống tại số A, ngõ C, phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, không tin tưởng nhau trong cuộc sống. Từ năm 2015 trở đi mâu thuẫn đã bắt đầu trầm trọng. Theo như ông N trình bầy bà T1 sống với ông N và người nhà ông N gồm: Bố mẹ, các em ruột ông N không đúng lễ nghi đạo đức, báo hiếu với mẹ anh N, sống với bản thân ông N thì không có trách nhiệm, không vì sự nghiệp của ông N, đi nói xấu ông N với người ngoài. Bà T1 nói với mọi người rằng ông N vô tích sự, rượu chè, gái gú, làm mất danh dự của ông N. Việc bà T1 cho em ruột bà T1 vay số tiền lớn khoảng đến 800 triệu không đòi lại được. Việc bà T1 tự ý cho em gái vay một số tiền lớn như vậy ông N không hề hay biết. Toàn bộ các lý do này chính là nguyên nhân làm mất danh dự của ông N, làm cả nhà ông N lâm vào tình trạng khốn cùng, từ tháng 6/2024 dẫn đến vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa.
Xét thấy cuộc hôn nhân muốn có hạnh phúc phải được xây dựng từ hai phía, vợ chồng phải chung sống cùng nhau, quan tâm và thương yêu chăm sóc nhau. Trên thực tế ông N đã làm đơn ly hôn bà T1 tại Toà án đến lần này là lần thứ hai, lần trước ông N đã rút đơn về để cải thiện quan hệ vợ chồng tuy nhiên không có kết quả nên ông N tiếp tục làm đơn ly hôn lần 2, thực tế ông N và bà T1 đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2024, không ai quan tâm đến ai nữa. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải với cả hai ông nhiều lần tuy nhiên ông N không đồng ý và vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Toà án cho ly hôn để ổn định cuộc sống, bà T1 đề nghị Toà án không chấp nhận đơn ly hôn của ông N tuy nhiên bà không đưa ra được phương án nào để cải thiện quan hệ vợ chồng, dẫn đến việc hoà giải tình cảm cho ông, bà là không có kết quả. Bà T1 có nộp cho Toà án các tài liệu bà cho rằng ông N có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác tuy nhiên các tài liệu đó không đủ căn cứ để Toà án xác định ông N đang có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác.Từ phân tích trên HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông N và bà T1 đã trầm trọng, kéo dài, ông, bà không có phương án hàn gắn mâu thuẫn, mục đích hôn nhân để xây dựng một gia đình hạnh phúc không đạt được; Do đó, yêu cầu ly hôn của ông N là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Xác nhận ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 có 02 con chung là cháu Bùi Khánh T, sinh ngày 04/02/2003 và Bùi Lê Tường A, sinh ngày 13/11/2007.Cháu T đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên Tòa án không xem xét. Giao cháu Tường A cho bà T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Bùi Đăng N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Tường A mỗi tháng 6.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận
Ông Bùi Đăng N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung (động sản + bất động sản): Ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
Về nợ chung: Ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí:Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Bùi Đăng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.và án phí sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56,Điều 81,Điều 82,Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 1 Điều 28,điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271,Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Đăng N.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Đăng N được ly hôn với bà Lê Thị Ngọc T1.
-
Về con chung: Xác nhận ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 có 02 con chung là cháu Bùi Khánh T, sinh ngày 04/02/2003 và cháu Bùi Lê Tường A, sinh ngày 13/11/2007. Cháu T đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên Tòa án không xem xét. Giao cháu Tường A cho bà T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Bùi Đăng N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Tường A mỗi tháng 6.000.000 đồng kể từ 3/2025 cho đến cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác
Ông Bùi Đăng N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung (động sản và bất động sản):Ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
- Về nợ chung: Ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Ông Bùi Đăng N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0034197 ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội và phải chịu án phí sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Ông Bùi Đăng N và bà Lê Thị Ngọc T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Hà |
14
Bản án số 39/2026/QĐST-DS ngày 14/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI về tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
- Số bản án: 39/2026/QĐST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trần Tuấn P về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Tuyên bố bà Trần Thị Mai H - sinh ngày 11/8/1974 ; Nơi cư trú: Tổ A phường V, Hà Nội mất năng lực hành vi dân sự. 2. Ông Trần Tuấn P, sinh ngày 25/12/1975; nơi cư trú: Tổ A phường V, thành phố Hà Nội là Người giám hộ và là Người đại diện theo pháp luật của bà Trần Thị Mai H. Ông Trần Tuấn P được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Người giám hộ và Người đại diện theo pháp luật cho bà Trần Thị Mai H theo quy định của Bộ luật dân sự.
