|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày 27-11-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Đôi – Cán bộ hưu trí xã Kiến Minh, thành phố Hải Phòng
- Bà Khúc Thị Minh – Cán bộ hưu trí xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nguyên Hiệu trưởng Trường tiểu học xã Đại Hà)
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Doan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Điểm cầu trung tâm: Hội trường A Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng và Đ cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 01- Công an thành phố H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST- HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/02/1991 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Bến Bính B, tổ dân phố D, phường T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lương Thị K; chưa có vợ, con; tiền án: Tại Bản án số 38/2010/HS-ST ngày 30-6-2010 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 146/2013/HS-ST ngày 04-9-2013 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 54 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Bản án số 123/2018/HS-ST ngày 19-9-2018 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; bị tạm giam từ 25/7/2025; có mặt.
2. Triệu Quốc K1, sinh ngày 02/9/2006 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn P, xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn H và bà Bùi Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ 25/7/2025; có mặt.
- Bị hại: Trung tâm quản lý, bảo trì các công trình thuộc Sở xây dựng thành phố H; địa chỉ: Số A đường C, phường H, thành phố Hải Phòng
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đỗ Quốc B1, nhân viên phòng quản lý bảo trì các công trình (là người đại diện theo ủy quyền của bị hại), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cháu Hoàng Thu H1, sinh ngày 15/11/2009; nơi cư trú: Đ, thôn X, xã T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng Thu H1: Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1981; cùng nơi cư trú: Đ, thôn X, xã T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phùng Tuấn D1, có mặt; ông Đỗ Văn H3, anh Lưu Đình T1, anh Lê Văn V; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 20/7/2025, Nguyễn Văn T bàn bạc với Triệu Quốc K1 khoảng 03 giờ ngày 21/7/2025 đến khu vực đường P thuộc phường H, thành phố Hải Phòng trộm cắp dây cáp điện để bán lấy tiền chi tiêu. K1 đồng ý, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 21/7/2025, T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 15H1-272.79 thuộc quyền sở hữu của T và mang theo rìu bằng kim loại, kìm cộng lực, dao dọc giấy đi đến khu vực dải phân cách trước cửa số nhà B đường P, thuộc tổ dân phố N, phường H, thành phố Hải Phòng đợi K1. Khoảng 03 giờ cùng ngày, K1 điều khiển xe mô tô Biển kiểm sát 15AA - 059.46 (thuộc quyền sở hữu của chị Hoàng Thu H1 là bạn) chở Ma Duy B2, sinh năm 2008 đi chơi (K1 không nói cho B2 biết việc đi trộm cắp dây cáp điện), khi đến khu vực đường P, phường H thì K1 nhìn thấy xe của T; B2 đứng lại, còn K1 đi bộ khoảng 05 mét đến gặp T và nói “Anh có lưỡi dao dọc giấy nào đưa em?”, T trả lời: “Ở đây không có, mày cứ ra nâng dây điện lên hộ anh để anh cắt!”. T và K1 đi đến giữa dải phân cách, K1 dùng tay mở nắp cống bê tông nhấc ống nhựa lên, bên trong bọc dây cáp điện, T dùng rìu bằng kim loại đập vỡ ống nhựa, sau đó cầm kìm cộng lực cắt đứt dây cáp điện, rồi cả hai đi bộ về hướng Cầu Rào khoảng 35 mét cắt đứt đầu dây cáp điện còn lại. T, K1 kéo được một đoạn dây cáp điện trên lên khỏi mặt đất, cả hai đang ngồi nghỉ thì bị lực lượng bảo vệ của Công ty Cổ phần C1 kết hợp với Công an phường H phát hiện, đưa T, K1 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường H làm việc; B2 bỏ đi khi Công an phát hiện. K1 và T không bàn bạc, không phân công nhiệm vụ cho B2 cảnh giới và cũng không hứa hẹn sẽ chia cho B2 khoản tiền nào liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của T, K1.
Bản kết luận định giá tài sản số 21 ngày 24/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: “Đoạn dây cáp điện nhãn hiệu LS vina, thông số cáp: Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 3.25+1.16; điện áp 0.6/1kv, vỏ bọc màu đen có đường kính 2,5cm, bọc 04 (bốn) lõi bằng kim loại màu vàng, tổng chiều dài đoạn dây là 35m, đã qua sử dụng. giá trị là 21.700.000 đồng”.
Bản kết luận giám định số 2137 ngày 13/8/2025 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, mang biển kiểm soát: 15H1-272.79, có số khung: RLCN5P1109Y083331 và số máy: 5P11083342 là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự; xe mô tô hai bánh, mang biển kiểm soát: 15AA-059.46, có số khung: RPEKCB9PEHA900200 và số máy: VDEJQ139FMB5900200 là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự”.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T, Triệu Quốc K1 khai nhận như nội dung nêu trên.
Bị hại là Trung tâm quản lý, bảo trì các công trình thuộc Sở X (viết tắt là Trung tâm) khai: Căn cứ Quyết định thành lập Trung tâm Q các công trình thuộc Sở X số 2754 ngày 04/7/2025 và Quyết định số 90 ngày 07/8/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố H quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm thì hệ thống dây cáp trên toàn bộ tuyến đường Phạm Văn Đ1; Sở xây dựng giao cho Trung tâm quản lý, bảo trì, đại diện sở hữu. Trường hợp bị mất dây cáp thì Trung tâm tự chịu trách nhiệm bồi thường cho Sở xây dựng. Sở xây dựng không liên quan gì trong vụ án này, hoàn toàn do Trung tâm giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thu H1 khai: H1 là bạn Triệu Quốc K1, khoảng 02 giờ ngày 21/7/2025, K1 hỏi mượn xe mô tô BKS 15AA - 059.46 thuộc quyền sở hữu của H1, không nói cho H1 biết mượn xe đi đâu, làm gì.
Vật chứng, tài sản thu giữ, gồm: 01 đoạn dây cáp điện bọc 04 lõi bằng kim loại màu vàng, vỏ bọc màu đen có đường kính 2,5cm, tổng chiều dài đoạn dây là 35m, đã trả cho bị hại là Trung tâm quản lý, bảo trì các công trình thuộc Sở X. 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu vàng đen BKS 15H1 - 272.79 (đã qua sử dụng) và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015308 mang tên Đoàn Quang L; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đen, Biển kiểm soát 15AA - 059.46 (đã qua sử dụng); 01 kìm cộng lực sơn màu xanh bằng kim loại dài 60cm, phần lưỡi cắt dài 11cm, đuôi kìm là tay nắm bên ngoài bằng nhựa màu đen; 01 kìm cộng lực dài 25cm bằng kim loại, phần lưỡi cắt dài 10cm, tay cầm bằng kim loại dài 15cm, sơn màu cam; 01 dao dọc giấy bằng kim loại, vỏ bằng nhựa màu đỏ dài 20cm, lưỡi dao dài 4cm; 01 rìu tự chế dài 28cm, phần đầu lưỡi rìu bằng kim loại dài 19cm, một đầu mài sắc, rộng nhất là 6cm, một đầu nhọn, chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6- Hải Phòng quản lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Trung tâm quản lý, bảo trì các công trình thuộc Sở X đã nhận lại 35m dây cáp điện và không yêu cầu Nguyễn Văn T, Triệu Quốc K1 bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra các bị cáo khai: Bị cáo T đề xuất trộm cắp tài sản, bị cáo K1 đồng ý cùng thực hiện. Mục đích các bị cáo trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, ngoài ra các bị cáo không bàn bạc với ai và không ai xúi giục các bị cáo thực hiện. Đối với xe mô tô BKS 15H1-272.79; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Đoàn Quang L; 02 kìm cộng lực; 01 dao dọc giấy; 01 rìu tự chế đều thuộc quyền sở hữu của bị cáo T. Bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với chiếc xe mô tô và đăng ký xe, còn lại các tài sản khác không còn giá trị sử dụng, đề nghị tiêu hủy. Đối với xe mô tô BKS 15AA-059.46, bị cáo K1 khai mượn của chị Hoàng Thu H1 nhưng bị cáo không nói cho chị H1 biết mượn xe đi trộm cắp tài sản. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho chị H1 quản lý, sử dụng.
Ông Đỗ Quốc B1 (đại diện hợp pháp của bị hại -Trung tâm quản lý, bảo trì các công trình thuộc Sở X) trình bày thống nhất như trên và xác nhận Trung tâm đã nhận lại đầy đủ 35m dây cáp điện do các bị cáo đã cắt trộm; toàn bộ tài sản này thuộc quyền quản lý của Trung tâm và Trung tâm tự chịu trách nhiệm khi bị mất hoặc hư hỏng tài sản. Nay trung tâm không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thu H1 trình bày thống nhất như nội dung trên và phù hợp với lời khai của bị cáo K1. Đề nghị Hội đồng xét xử cho cháu xin lại chiếc xe mô tô BKS 15AA-059.46 để cháu sử dụng.
Bản cáo trạng số 12/CT-VKSKV6 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố Triệu Quốc K1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Quốc K1; tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Triệu Quốc K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 48 tháng đến 54 tháng tù; xử phạt bị cáo Triệu Quốc K1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về tránh nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo T 01 xe mô tô BKS 15H1-272.79 và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Đoàn Quang L; trả lại cháu Hoàng Thu H1 01 xe mô tô BKS 15AA-059.46; tịch thu tiêu hủy 02 kìm cộng lực, 01 rìu, 01 dao dọc giấy, vì không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, vật chứng thu được, Kết luận định giá tài sản, Kết luận giám định và nội dung bản Cáo trạng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ ngày 21/7/2025, tại khu vực dải phân cách trước cửa số nhà B đường P, thuộc tổ dân phố N, phường H, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Văn T và Triệu Quốc K1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 đoạn dây cáp điện dài 35 mét của Trung tâm quản lý, bảo trì các công trình thuộc Sở Xây dựng thành phố H, trị giá 21.700.000 đồng. Như vậy các bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T có 03 tiền án, trong đó Bản án số 123/HSST ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã xác định bị cáo tái phạm nguy hiểm, nay chưa được xóa án tích mà bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Như vậy, lần phạm tội này của bị cáo xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Triệu Quốc K1 không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết định khung hình phạt nên phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố và đề nghị tại phiên tòa.
[3] Tính chất vụ án ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo để phòng ngừa tội phạm.
[4] Nhân thân các bị cáo:
[4.1] Bị cáo Nguyễn Văn T đã từng có 03 tiền án, không có tiền sự. Tiền án: Tại bản án số 38/HSST ngày 30/6/2010 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 08/3/2013, bị cáo lại thực hiện hành vi Cướp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 54 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, xác định bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm tại bản án số 146/HSST ngày 04/9/2013.
Ngày 03/5/2018, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 123/HSST ngày 19/9/2018. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm từ ngày 26/11/2018 và chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 03/9/2023 (tính đến ngày 21/7/2025, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này) là 01 năm 10 tháng 18 ngày (chưa quá 03 năm); căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích.
[4.2] Bị cáo Triệu Quốc K1: Không có tiền án, tiền sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T có 03 tiền án chưa được xóa án tích nhưng đã xác định là tình tiết định khung hình phạt nên không coi là tình tiết tăng nặng. Vì vậy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo K1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về vai trò của từng bị cáo: Bị cáo T đề xuất, chuẩn bị công cụ phạm tội nên T có vai trò đầu vụ.
[8] Sau khi xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi xã hội thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[9] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra trách nhiệm đối với các bị cáo.
[11] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 15H1-272.79; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; 02 kìm cộng lực; 01 dao dọc giấy; 01 rìu tự chế đều thuộc quyền sở hữu của bị cáo T. Xét xe mô tô bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại, chưa sử dụng làm phương tiện đi tiêu thụ tài sản nên trả lại cho bị cáo cùng Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy. Đối với 02 kìm cộng lực; 01 dao dọc giấy; 01 rìu tự chế, bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô BKS 15AA-059.46 mà bị cáo Khánh mượn của cháu Hoàng Thu H1 nhưng cháu H1 không biết K1 mượn đi trộm cắp tài sản nên trả lại cho cháu H1 theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Trong vụ án này, Ma Duy B2 đi cùng bị cáo K1 đến khu vực đường P, phường H, thành phố Hải Phòng nhưng K1 không nói cho B2 biết việc K1, T trộm cắp dây cáp điện; ngoài ra, B2 không được các bị cáo bàn bạc, phân công nhiệm vụ gì liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo nên Cơ quan điều tra không xử lý Ma Duy B2 là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Quốc K1
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn T, Triệu Quốc K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/7/2025.
Xử phạt bị cáo Triệu Quốc K1: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/7/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 xe mô tô BKS 15H1-272.79 và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 15308 mang tên Đoàn Quang L; trả lại cho chị Hoàng Thu H1 01 xe mô tô BKS 15AA-059.46; tịch thu tiêu hủy 02 kìm cộng lực; 01 dao dọc giấy; 01 rìu tự chế (toàn bộ vật chứng, chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6- Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Danh mục kèm theo Nghị quyết, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Khúc Thị Minh | Vũ Thị Dịu |
| Đặng Thị Đôi |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 39/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trôm cáp tài sản
