| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 38/2026/DS-PT Ngày: 15-01-2026 V/v Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------- |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thư
Các thẩm phán: Ông Lê Quang Ninh
Bà Đinh Thị Kiều Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Anh, Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 690/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2025 về việc "Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất". Do Bản án dân sự sơ thẩm số 268/2025/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 658/2025/QĐXX-PT ngày 11 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2026/QĐ-PT ngày 07/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Anh T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Quốc V, sinh năm 1984; địa chỉ: Số B, Ấp G, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị đơn: Bà Trịnh Thị Bạch H, sinh năm 1968; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn:
+ Ông Lê Văn S, sinh năm 1993; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
+ Bà Vi Thị P, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ D, ấp E, phường T, tỉnh Đồng Nai (theo giấy ủy quyền ngày 29/12/2025).
+ Bà Lê Thanh T1, sinh năm 2000; địa chỉ: B, tổ A, khu phố F, phường T, tỉnh Đồng Nai (theo giấy ủy quyền ngày 29/12/2025).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Hoa Đ, sinh năm 1945; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
- Ông Trịnh Văn T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
- Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1966; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
- Bà Trịnh Thị Kim L1, sinh năm 1970; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
- Bà Nguyễn Thị Ái L2, sinh năm 1990; địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
- Bà Lê Thị Thanh X, sinh năm 1991;
- Ông Lê Văn S, sinh năm 1993.
Đại diện theo uỷ quyền của bà X: Ông Lê Văn S, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
9. Ông Lê Văn B, sinh năm 1963; địa chỉ: Số G, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
Người kháng cáo: Bà Trịnh Thị Bạch H.
(Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Vi Thị P và bà Lê Thanh T1 có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trịnh Anh T trình bày:
Ông nội ông T là Trịnh Văn H1, sinh năm 1943 (chết năm 1995), bà nội là Phạm Thị Hoa Đ, sinh năm 1945. Ông bà nội ông sinh được 04 người con là: Trịnh Văn T2 (cha ông T), Trịnh Thị L, Trịnh Thị B1, Trịnh Thị Kim L1. Ông H1, bà Đ có tạo lập được diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông Trịnh Văn H1 chết không để lại di chúc. Phần tài sản của ông nội H1 để lại sau này, bà nội, cha và các cô trong gia đình ông T là những người thừa kế theo pháp luật của ông nội ông đã lập văn bản thỏa thuận phân chia phần tài sản do ông nội ông để lại. Theo đó: Bà nội ông, cha ông là ông Trịnh Văn T2, cô là bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 đồng ý để lại diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của ông nội ông cho bà nội là bà Phạm Thị Hoa Đ được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt. Văn bản thỏa thuận đã được các đồng thừa kế ký tên và công chứng tại Văn phòng C vào ngày 17/3/2017. Căn cứ theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên, bà nội ông tiến hành đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/7/2017, Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 cho bà nội ông đối với thửa đất nêu trên. Sau đó, bà nội ông lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên cho ông. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C ngày 31/7/2017. Ngày 14/8/2017, Văn phòng Đ2 Chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ tên bà nội tôi là Phạm Thị H2 Đào sang cho tôi là Trịnh Anh T. Hiện nay, trên thửa đất nêu trên, ngoài ngôi nhà của tôi đang sinh sống, có nhà của cô tôi là bà Trịnh Thị Bạch H. Trước đây, khoảng năm 1999 - 2000, cô tôi là Trịnh Thị Bạch H có xây một căn nhà trên diện tích 50m2 của thửa đất nêu trên để sinh sống (sau khi đo vẽ thì diện tích đất nhà là 71,3m2). Lúc này đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông nội tôi chết, bà H cùng với cha tôi, bà nội tôi và các cô tôi đã thỏa thuận phân chia toàn bộ di sản thừa kế do ông nội tôi để lại là 1/2 thửa đất nêu trên cho bà nội tôi được quyền sở hữu. Thực chất đất này là của ông bà nội tôi, sau khi ông nội tôi chết bà H cũng thừa nhận đất này không phải thuộc sở hữu của bà và đồng ý để lại phần thừa kế của mình cho bà nội tôi được quyền sở hữu. Bà H không còn quyền sở hữu đối với thửa đất trên. Hiện nay, bà H đang sinh sống trên đất cùng 02 người con của bà là Lê Thị Thanh X, Lê Văn S. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tôi cũng như đảm bảo sự ổn định, tính pháp lý của diện tích trên, tôi đã nhiều lần trao đổi với bà H đề nghị bà H di dời, trả lại cho tôi toàn bộ diện tích đất mà bà H đang sinh sống nhưng bà H không đồng ý. Nhận thấy việc bà H sinh sống trên diện tích đất tôi được quyền sở hữu hợp pháp là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Nay tôi làm đơn khởi kiện này yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà H trả lại cho tôi diện tích 71,3m2 đất tại thửa đất 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 cho bà nội tôi là Phạm Thị Hoa Đ và Văn phòng Đ2 Chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ tên bà nội tôi là Phạm Thị H2 Đào sang cho tôi là Trịnh Anh T. Tôi đồng ý bồi thường cho bà Trịnh Thị Bạch H giá trị căn nhà theo chứng thư thẩm định giá với số tiền là 157.931.000đ và hỗ trợ cho bà H thêm số tiền di dời là 42.069.000đ. Tổng cộng là 200.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn S và là đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H trình bày:
Nguyên trước đây mẹ bà H là Phạm Thị Hoa Đ và anh trai là Trịnh Văn T2 có cho bà H sử dụng một thửa đất có chiều dài 12,7m và chiều ngang 5,4m tại thửa đất 78 số tờ 11, K, phường T, TP . và có làm giấy cam kết để sau này không xảy ra tranh chấp, đồng thời cũng dễ làm thủ tục giấy tờ sau này. Lúc này QSDĐ là chủ hộ bà Đ đứng tên là Phạm Thị Hoa Đ tại thửa đất số 78 tờ bản đồ 11, phường T, TP .. Trước đây bà H cũng xin mẹ và anh là Trịnh Văn T2 tách quyền sử dụng đất nhưng mẹ và anh không cho, nói rằng sau này tính. Nhưng bây giờ bà H được biết bà Đ đã chuyển QSDĐ trên cho Trịnh Anh T là con Trịnh Văn T2 mà không cho bà H biết rõ, trong đó có luôn phần đất bà H đang ở hiện nay. Như vậy, bà H và ông T2 trốn tránh trách nhiệm như đã ký cam kết trước đây và có dấu hiệu vi phạm luật chuyển quyền sử dụng đất. Để bây giờ Trịnh Anh T đòi lấy lại phần đất để bán. Bà H nhận thấy đây là sự sắp đặt trước có chủ đích. Do vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà H không đồng ý.
Trường hợp Tòa án tuyên bà H phải trả lại đất cho nguyên đơn thì bà H đồng ý với việc nguyên đơn bồi thường cho bà H giá trị căn nhà theo chứng thư thẩm định giá với số tiền là 157.931.000 đồng và hỗ trợ cho bà H thêm số tiền di dời là 42.069.000đ. Tổng cộng là 200.000.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Hoa Đ trình bày:
Tôi và ông Trịnh Văn H1, sinh năm 1943 (chết năm 1995) sinh được 04 người con là: Trịnh Văn T2, Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1. Tôi và ông Trịnh Văn H1 có tạo lập được diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khi chồng tôi chết, tôi và các con tôi là Trịnh Văn T2, Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 đã lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản do chồng tôi để lại là diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho tôi được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt.
Văn bản thỏa thuận đã được các đồng thừa kế ký tên và công chứng tại Văn phòng C vào ngày 17/3/2017. Căn cứ theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên, tôi tiến hành đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/7/2017, Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 cho tôi đối với thửa đất nêu trên. Sau đó, tôi lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên cho cháu nội tôi là Trịnh Anh T. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C ngày 31/7/2017. Việc tặng cho này là do tôi hoàn toàn tự nguyện. Ngày 14/8/2017, Văn phòng Đ2 Chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ tên tôi là Phạm Thị H2 Đào sang cho cháu nội tôi là Trịnh Anh T. Hiện nay, trên thửa đất nêu trên, ngoài ngôi nhà của tôi và cháu nội tôi Trịnh Anh T đang sinh sống, có nhà của con gái tôi là bà Trịnh Thị Bạch H. Trước đây, khoảng năm 1999–2000, con tôi là Trịnh Thị Bạch H có xây một căn nhà trên diện tích 50m2 của thửa đất nêu trên để sinh sống.
Hiện nay, cháu Trịnh Anh T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết buộc bà Trịnh Thị Bạch H trả lại cho Trịnh Anh T diện tích 71,3m2 đất tại thửa đất 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết theo quy định vì thửa đất này tôi đã tặng cho cháu tôi là Trịnh Anh T. Tôi không có ý kiến gì với việc tặng cho nêu trên vì đã được thực hiện hợp pháp, theo quy định của pháp luật. Tôi chỉ cho bà H xây nhà để ở trên đất chứ không cho đất. Kính mong Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xem xét, giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn T2 trình bày:
Cha tôi là Trịnh Văn H1, sinh năm 1943 (chết năm 1995), mẹ tôi là Phạm Thị Hoa Đ, sinh năm 1945. Cha mẹ tôi sinh được 04 người con là: tôi là Trịnh Văn T2, Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1. Cha mẹ tôi có tạo lập được diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Cha tôi chết không để lại di chúc. Phần tài sản của cha tôi để lại sau này thì mẹ tôi, tôi và Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 là những người thừa kế theo pháp luật của cha tôi, chúng tôi đã lập văn bản thỏa thuận phân chia phần tài sản do cha tôi để lại, theo đó: mẹ tôi, tôi, bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 đồng ý để lại diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của cha tôi cho mẹ tôi được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt. Văn bản thỏa thuận đã được các đồng thừa kế ký tên và công chứng tại Văn phòng C vào ngày 17/3/2017. Căn cứ theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên, mẹ tôi tiến hành đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/7/2017, Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 cho mẹ tôi đối với thửa đất nêu trên. Sau đó, mẹ tôi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên cho con trai tôi là Trịnh Anh T. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C ngày 31/7/2017. Ngày 14/8/2017, Văn phòng Đ2 chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ tên bà Phạm Thị H2 Đào sang cho con tôi là Trịnh Anh T. Hiện nay, trên thửa đất nêu trên ngoài ngôi nhà của tôi đang sinh sống còn có nhà của bà Trịnh Thị Bạch H. Trước đây, khoảng năm 1999 - 2000, bà Trịnh Thị Bạch H có xây một căn nhà trên diện tích 50m2 của thửa đất nêu trên để sinh sống. Hiện nay, bà H đang sinh sống trên đất cùng 02 người con của bà là Lê Thị Thanh X và Lê Văn S. Hiện nay, con tôi là Trịnh Anh T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết; buộc bà H trả lại diện tích 71,3m2 đất tại thửa đất 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B. Tôi đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho con tôi cũng như đảm bảo sự ổn định, tính pháp lý của diện tích đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ái L2 trình bày:
Tôi là vợ của anh Trịnh Anh T, nguyên đơn trong vụ án. Chúng tôi kết hôn năm 2016. Sau khi kết hôn thì tôi được biết ông bà nội chồng tôi có tạo lập được diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông nội chồng tôi chết không để lại di chúc. Phần tài sản của ông nội tôi để lại sau này bà nội, cha tôi và các cô trong gia đình là những người thừa kế theo pháp luật của ông nội tôi đã lập văn bản thỏa thuận phân chia phần tài sản do ông nội tôi để lại theo đó: Bà nội tôi, cha chồng tôi là ông Trịnh Văn T2, cô tôi là bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 đồng ý để lại ½ diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của ông nội tôi cho bà nội tôi được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt. Văn bản thỏa thuận đã được các đồng thừa kế ký tên và công chứng tại văn phòng C vào ngày 17/3/2017.
Căn cứ theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên, bà nội tôi tiến hành đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/7/2017 Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 cho bà nội tôi đối với thửa đất nêu trên.
Sau đó, bà nội tôi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên cho tôi. Hợp đồng được công chứng tại văn phòng C ngày 31/7/2017. Ngày 14/8/2017 Văn phòng Đ2 chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ tên bà nội tôi là Phạm Thị Anh Đ1 sang cho chồng tôi là Trịnh Anh T.
Hiện nay trên thửa đất nêu trên ngoài ngôi nhà của chúng tôi đang sinh sống có nhà của cô chồng tôi là bà Trịnh Thị Bạch H. Hiện nay bà H đang sinh sống trên đất cùng 02 người con của bà là Lê Thị Thanh X, Lê Văn S. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tôi cũng như đảm bảo sự ổn định, tính pháp lý của diện tích trên vợ chồng tôi đã nhiều lần trao đổi với bà H đề nghị bà H di dời, trả lại cho tôi toàn bộ diện tích đất mà bà H đang sinh sống nhưng bà H không đồng ý. Nhận thấy việc bà H sinh sống trên diện tích đất chồng tôi được quyền sở hữu hợp pháp là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chúng tôi.
Vì vậy, chồng tôi là Trịnh Anh T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết: Buộc bà H trả lại diện tích 50m2 đất tại thửa đất 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B đã được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 cho bà nội tôi là Phạm Thị Hoa Đ và Văn phòng Đ2 chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ tên bà nội tôi là Phạm Thị H2 Đào sang cho chồng tôi là Trịnh Anh T tôi hoàn toàn đồng ý.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Kim L1 trình bày:
Cha tôi là Trịnh Văn H1, sinh năm 1943 (chết năm 1995), mẹ tôi là Phạm Thị Hoa Đ, sinh năm 1945. Cha mẹ tôi sinh được 04 người con là: tôi là Trịnh Văn T2, Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1. Quá trình chung sống cha mẹ tôi có tạo lập được diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Cha tôi chết không để lại di chúc. Phần tài sản của cha tôi để lại sau này mẹ tôi, tôi, anh tôi là Trịnh Văn T3 cùng với Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 là những người thừa kế theo pháp luật của cha tôi đã lập văn bản thỏa thuận phân chia phần tài sản do cha tôi để lại theo đó: mẹ tôi, tôi, bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 đồng ý để lại ½ diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của cha tôi cho mẹ tôi được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt. Văn bản thỏa thuận đã được các đồng thừa kế ký tên và công chứng tại văn phòng C vào ngày 17/3/2017. Sau đó, mẹ tôi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên cho Trịnh Anh T. Hợp đồng được công chứng tại văn phòng C ngày 31/7/2017.
Hiện nay, cháu Trịnh Anh T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết buộc bà Trịnh Thị Bạch H trả lại cho Trịnh Anh T diện tích 50m2 đất tại thửa đất 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết theo quy định vì thửa đất này mẹ tôi đã tặng cho cháu tôi là Trịnh Anh T. Tôi không có ý kiến gì với việc tặng cho nêu trên vì đã được thực hiện hợp pháp, theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị L trình bày:
Cha tôi là Trịnh Văn H1, sinh năm 1943 (chết năm 1995), mẹ tôi là Phạm Thị Hoa Đ, sinh năm 1945. Cha mẹ tôi sinh được 04 người con là: tôi là Trịnh Văn T2, Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1. Quá trình chung sống cha mẹ tôi có tạo lập được diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Cha tôi chết không để lại di chúc. Phần tài sản của cha tôi để lại sau này mẹ tôi, tôi, anh tôi là Trịnh Văn T3 cùng với Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 là những người thừa kế theo pháp luật của cha tôi đã lập văn bản thỏa thuận phân chia phần tài sản do cha tôi để lại theo đó: mẹ tôi, tôi, bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bạch H, Trịnh Thị Kim L1 đồng ý để lại ½ diện tích đất 162,4m2, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của cha tôi cho mẹ tôi được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt. Văn bản thỏa thuận đã được các đồng thừa kế ký tên và công chứng tại văn phòng C vào ngày 17/3/2017. Sau đó, mẹ tôi lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất nêu trên cho Trịnh Anh T. Hợp đồng được công chứng tại văn phòng C ngày 31/7/2017.
Hiện nay, cháu Trịnh Anh T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết buộc bà Trịnh Thị Bạch H trả lại cho Trịnh Anh T diện tích 50m2 đất tại thửa đất 78, tờ bản đồ 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết theo quy định vì thửa đất này mẹ tôi đã tặng cho cháu tôi là Trịnh Anh T. Tôi không có ý kiến gì với việc tặng cho nêu trên vì đã được thực hiện hợp pháp, theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 268/2025/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai) tuyên xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 163, Điều 166 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Anh T đối với bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H về việc “đòi lại tài sản là Quyền sử dụng đất”
Buộc bà Trịnh Thị Bạch H có nghĩa vụ trả lại tài sản cho anh Trịnh Anh T là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, diện tích 71,3m2 được giới hạn bởi các mốc (2,3,4,5,6,2) theo bản đồ hiện trạng số 3936/2021 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 – chi nhánh B2 phát hành ngày 18/11/2021.
Giao căn nhà ở trên đất có diện tích 65.24m2 thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo bản vẽ hiện trạng nhà ngày 17/11/2021 cho ông Trịnh Anh T được sở hữu, ông Trịnh Anh T có trách nhiệm bồi thường giá trị nhà theo chứng thư thẩm định giá số 259/TĐG-CT ngày 15/11/2022 là 157.931.000 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn đồng) cho bà Trịnh Thị Bạch H.
Ghi nhận sự tự nguyện ông Trịnh Anh T tự nguyện hỗ trợ di dời nhà cho bà Trịnh Thị Bạch H là 42.069.000 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm sáu mươi chín ngàn đồng)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 27/5/2025, bà Trịnh Thị Bạch H kháng cáo toàn bộ Bản án số 112/2025/DS-ST ngày 29/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai).
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt nên không trình bày ý kiến, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
- Việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có sai lầm trong đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, cụ thể:
Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp; thiếu các quyết định thay đổi thẩm phán, thư ký; Quyết định tạm đình chỉ ký sai thẩm quyền; thủ tục thẩm định giá sai quy định.
Về nội dung: Do vợ chồng bị đơn đã quản lý, sử dụng phần diện tích đất đang tranh chấp hơn 30 năm, căn cứ Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 cần xác định bị đơn là chủ sử dụng đất hợp pháp phần đất tranh chấp này. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận nhận phần kháng cáo của bị đơn, tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H kháng cáo đúng thời hạn và đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà H:
[2.1] Tài sản tranh chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) diện tích 162,4m2. Về nguồn gốc các đương sự đều thừa nhận là tài sản của ông Trịnh Văn H1 và bà Phạm Thị Hoa Đào tạo L3. Năm 1995 ông Trịnh Văn H1 chết không để lại di chúc, thời điểm ông H1 chết thửa đất tranh chấp chưa được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất). Năm 1999 và năm 2002 do bà Trịnh Thị Bạch H không có chỗ ở nên bà Phạm Thị Hoa Đ, ông Trịnh Văn T2 và bà Trịnh Thị Bạch H đã lập tờ cam kết Quyền sử dụng đất theo đó bà Đ và ông T2 cho bà H một thửa đất để được quyền sử dụng là 50m2. Do đó, Bà H không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.2] Đối với tờ giấy cam kết quyền sử dụng đất ngày 02/7/1999 và tờ giấy cam kết quyền sử dụng đất ngày 02/7/2002, mặc dù giữa bà Phạm Thị Hoa Đ, ông Trịnh Văn T2 và bà Trịnh Thị Bạch H có lập tờ cam kết sử dụng đất với bà Trịnh Thị Bạch H thể hiện bà Đ và ông T2 cho bà H một thửa đất để được quyền sử dụng là 50m2, tuy nhiên tại thời điểm này đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ hoặc ông T2, những người còn lại của bà Đ là bà L1, bà L cũng không ký tên vào tờ giấy cam kết quyền sử dụng đất nêu trên do đó tờ giấy cam kết quyền sử dụng đất ngày 02/7/1999 và tờ giấy cam kết quyền sử dụng đất ngày 02/7/2002 chưa đủ cơ sở pháp lý để công nhận. Mặt khác, tại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được công chứng chứng thực ngày 16/3/2017, bà Trịnh Thị Bạch H ký vào văn bản thỏa thuận xác nhận bà Phạm Thị Hoa Đ được toàn quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt toàn bộ căn nhà và Quyền sử dụng đất thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, văn bản này có đầy đủ chữ ký của các đồng thừa kế, tất cả các bên đồng thừa kế đều tự nguyện ký, không bị ép buộc, hình thức, nội dung văn bản phù hợp theo quy định của pháp luật, thời điểm ký tên bà H có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã được công chứng viên giải thích rõ quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp, hậu quả pháp lý của việc ký tên vào văn bản, bà H cũng đã tự nguyện, đồng ý ký tên để lại toàn bộ tài sản cho bà Đ, bà H không có khiếu nại hay ý kiến gì với văn bản này. Như vậy bằng văn bản này bà H đã đồng ý để lại phần thừa kế mà mình được hưởng cho bà Phạm Thị Hoa Đ.
[2.3] Căn cứ vào Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, bà Đ đã tiến hành đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 14/7/2017 Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466. Ngày 31/7/2017, bà Đ lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp cho ông Trịnh Anh T, hợp đồng được công chứng chứng thực tại Văn phòng C theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 14/8/2017 Văn phòng đăng ký đất đai Đ2 - chi nhánh B2 đã thay đổi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH 656466 từ bà Phạm Thị Anh Đ1 sang cho ông Trịnh Anh T. Như vậy, Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được công chứng chứng thực ngày 16/3/2017 về hình thức và nội dung tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật, đã hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên cho bà Đ1 và ông T. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị Bạch H phải trả lại Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có cơ sở để chấp nhận.
[2.4] Bà H kháng cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có chứng cứ gì khác chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở nên không được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H.
[2.5] Đối với căn nhà trên đất thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm ông Trịnh Anh T đều có yêu cầu được sở hữu căn nhà và thanh toán lại cho bà Trịnh Thị Bạch H giá trị căn nhà là 157.931.000 đồng, đồng thời ông T có nguyện vọng sẽ hỗ trợ di dời nhà cho bà Trịnh Thị Bạch H là 42.069.000 đồng. Do quyền sử dụng đất đã được giao cho ông T nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T giao căn nhà theo bản vẽ hiện trạng nhà ngày 17/11/2021 cho ông T được sở hữu, ông T có trách nhiệm bồi thường giá trị nhà theo chứng thư thẩm định giá là 157.931.000 đồng và hỗ trợ số tiền 42.069.000 đồng cho bà Trịnh Thị Bạch H.
[3] Về chi phí tố tụng: ông Trịnh Anh T tự nguyện chịu chi phí tố tụng là 29.290.429 đồng (ông T đã nộp xong).
[4] Về án phí:
Nguyên đơn ông Trịnh Anh T phải chịu 7.896.550 án phí dân sự sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông T đã nộp là 7.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007228 ngày 30/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, ông T phải nộp thêm số tiền 396.550 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào các Điều 163, Điều 166 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H. Giữ nguyên Bản án số 112/2025/DS-ST ngày 29/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Anh T đối với bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H về việc “đòi lại tài sản là Quyền sử dụng đất”
Buộc bà Trịnh Thị Bạch H có nghĩa vụ trả lại tài sản cho ông Trịnh Anh T quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) diện tích 71,3m2 được giới hạn bởi các mốc (2,3,4,5,6,2) theo bản đồ hiện trạng số 3936/2021 ngày 18/11/2021của Văn phòng đăng ký đất đai Tỉnh Đ2 – Chi nhánh B2.
Giao căn nhà ở trên đất có diện tích 65.24m2 thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) theo bản vẽ hiện trạng nhà ngày 17/11/2021 cho ông Trịnh Anh T được sở hữu, ông Trịnh Anh T có trách nhiệm bồi thường giá trị nhà theo chứng thư thẩm định số 259/TĐG-CT ngày 15/11/2022 là 157.931.000 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn đồng) cho bà Trịnh Thị Bạch H.
Ghi nhận sự tự nguyện ông Trịnh Anh T tự nguyện hỗ trợ di dời nhà cho bà Trịnh Thị Bạch H là 42.069.000 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm sáu mươi chín ngàn đồng).
2. Về chi phí tố tụng: Ông Trịnh Anh T tự nguyện chịu chi phí tố tụng là 29.290.429 đồng (hai mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn, bốn trăm hai mươi chín đồng) (ông T đã nộp xong).
3. Về án phí:
Nguyên đơn ông Trịnh Anh T phải chịu 7.896.550 đồng (bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông T đã nộp là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007228 ngày 30/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, ông T phải nộp thêm số tiền 396.550 đồng (ba trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai; - Phòng THADS Khu vực 1 - Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thư |
Bản án số 38/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 38/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị Bạch H. Giữ nguyên Bản án số 112/2025/DS-ST ngày 29/5/2025 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai).
