TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 38/2025/KDTM-ST
Ngày: 28/11/2025
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Tạ Đức Minh
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 48/2024/TLST-KDTM ngày 23/10/2025, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2025/QĐXXST-KDTM ngày 30/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QÐST-DS ngày 17/11/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty C1
Địa chỉ: Tầng B Tòa nhà R, số E phố N, phường L, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, Cán bộ thu hồi nợ (Theo Giấy ủy quyền số 1068/2025/GUQ-BSL.HN ngày 25/11/2025 của Công ty C1)
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ
Trụ sở theo ĐKKD: Tầng G thương mại, Tòa nhà R đường P, phường G, khu V - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
Mã số doanh nghiệp: 0401918781
Đại diện theo pháp luật: Bà Lương Thị H, sinh năm 1993; Địa chỉ: P CT2 R, đường P, phường G, khu V - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn H1; địa chỉ: P CT2 R, đường P, phường G, khu vực 5 - Hà Nội, Hà Nội (Theo Giấy uỷ quyền ngày 16/01/2025 của Công ty CP Đ)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH X
2
Trụ sở theo ĐKKD: 94 H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
Mã số doanh nghiệp: 3100268133
Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn M – Chức vụ: Giám đốc (địa chỉ: số I V, phường Đ, tỉnh Quảng Trị)
Tất cả các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ghi ngày và các bản tự khai, văn bản ý kiến trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn là Công ty C1 (sau đây gọi tắt là “SuMi TRUST” hoặc “BSL”) trình bày: Công ty C1 và Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là “Tín An Toàn C”) ký kết Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289/HĐCTTC ngày 05/07/2023 với nội dung cụ thể như sau:
- Bên cho thuê – chủ sở hữu tài sản: Công ty B
- Bên thuê – sử dụng tài sản: Công ty Đ
- Tài sản thuê: 01 máy khoan cọc nhồi và phụ kiện kèm theo gồm: 02 cần kelly khoan đá, 02 gầu khoan đá D1200, 01 gầu cắt vành D1200.
- Số tiền thuê: 10.000.000.000 đồng
- Thời hạn thuê: 36 tháng
- Lãi suất thuê: điều chỉnh 03 tháng/lần
Quá trình thực hiện hợp đồng; Công ty B đã giải ngân khoản nợ gốc tiền thuê là 10.000.000.000 đồng theo đúng thỏa thuận. Công ty Đ cũng đã thanh toán được 1.666.666.666 đồng tiền nợ gốc. Tuy nhiên, đến tháng 01/2024, Công ty Đ bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ dù đã nhiều lần được BSL thông báo và nhắc nhở. Do đó, ngày 07/05/2024, Công ty B đã ban hành thông báo đối với Công ty Đ về việc chấm dứt hợp đồng và thu hồi nợ trước hạn. Công ty B cũng đã nhiều lần yêu cầu Công ty Đ bàn giao lại tài sản cho BSL nhưng không được thực hiện.
Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, SuMi TRUST khởi kiện Công ty Đ ra trước Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, thành phố Hà Nội, đề nghị Quý Tòa giải quyết các vấn đề sau:
(1) Buộc Công ty Đ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc là 8.333.333.334 đồng cùng toàn bộ các khoản tiền lãi, tiền phạt phát sinh liên quan theo quy định hợp đồng cho đến khi Công ty Đ thanh toán hết nợ.
(2) Buộc Công ty Đ bàn giao lại tài sản cho thuê tài chính là 01 máy khoan cọc nhồi để BSL xử lý thu hồi nợ.
(3) Trường hợp số tiền từ việc xử lý tài sản thuê tài chính không đủ để thanh toán nợ thì Công ty Đ vẫn tiếp tục cho nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ theo hợp đồng cho BSL.
3
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn giao nộp bảng kê tính gốc, lãi đến ngày xét xử sơ thẩm, theo đó thì nợ gốc là 8.333.333.334 đồng, nợ lãi trong hạn là 39.328.767 đồng, lãi và phí phạt quá hạn là 1.171.520.548 đồng, tiền ký cược còn thiếu là 438.424.658 đồng, phí phạt sử dụng tiền ký cược tính đến ngày chấm dứt hợp đồng (07/5/2024) là 59.693.757 đồng, tổng dư nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (28/11/2025) là 10.203.520.384 đồng.
* Bị đơn là Công ty Cổ phần Đ trình bày xác nhận việc ký hợp đồng; nhận bàn giao tài sản thuê tài chính và tiền thuê nợ theo hợp đồng như trình bày của nguyên đơn.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý và sử dụng tài sản; do phía đối tác của Công ty Đ không trả tiền thuê máy nên bị đơn bị mất khả năng thanh toán dẫn đến nợ BSL.
Trên tinh thần hợp tác; ngày 11/06/2024, Công ty B và Công ty Đ đã có biên bản làm việc xác nhận số nợ gốc như BSL yêu cầu (8.333.333.334 đồng) và thống nhất nội dung “Hai bên cùng phối hợp tìm đối tác bán tài sản cho thuê tài chính và Công ty Đ phối hợp bàn giao lại tài sản cho BSL”
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn cho rằng trong biên bản làm việc ngày 11/06/2024 không xác định thời hạn trả nợ nên việc khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ; đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH X trình bày: giữa Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là “Công ty X”) và Công ty Đ phát sinh Hợp đồng thuê máy khoan cọc nhồi số 2024 ngày 17/01/2024, đối tượng của HĐ (tài sản thuê) là 01 máy khoan cột buồn Zoomlion Model ZR280C-2 sản xuất năm 2020, 02 gầu khoan D1200, 01 gầu khoan cắt vành, thoả thuận giá thuê là 560.000.000đ/tháng có giá trị trong vòng 03 tháng. Theo đó, Công ty Đ đặt máy ở công trường của Công ty X tại tỉnh Quảng bình (nay là tỉnh Quảng Trị) và vận hành. Để thực hiện hợp đồng thuê, Công ty Đ đề nghị tạm ứng và Công ty X đã thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi số 1030324E16891311 ngày 16/5/2024 với số tiền là 560.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng), nhưng sau đó máy khoan không hoạt động được (sau này tôi biết được là do Công ty Đ nợ tiền, có tranh chấp nên phía bán máy đã khoá máy lại không cho hoạt động), nhưng Tín An Toàn C cũng không trả lại cho Công ty tôi số tiền này.
Đối với thiệt hại của Công ty X do Công ty Đ gây ra, tại thời điểm này Công ty TNHH X chưa có yêu cầu độc lập gửi đến Toà án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
4
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác minh thu thập chứng cứ, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và đương sự đúng quy định. Tuy nhiên vụ án đến ngày 21/3/2025 mới ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử (lần đầu) là vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 203 Bộ luật TTDS.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của BLTTDS.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 30 BLTTDS năm 2015; Điều 351, 357 BLDS năm 2015; Luật thương mại 2005; Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326 về lệ phí, án phí tòa án,
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C1 (BSL), buộc Công ty CP Đ phải thanh toán cho BSL tổng số tiền thuê nợ gốc là: 8.333.333.334 đồng; tiền lãi theo quy định hợp đồng đã được ký kết giữa các bên.
+ Buộc Công ty Đ bàn giao lại tài sản thuê là 01 máy khoan cọc nhồi mang biển đăng ký 29XA-3289 cho Công ty B xử lý nợ. Trường hợp việc xử lý tài sản cho thuê không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì Tín An Toàn C vẫn tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán hết nợ cho BSL.
+ Công ty Đ có nghĩa vụ nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Công ty C1 khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền thuê gốc và lãi phát sinh (một dạng cấp tín dụng) từ Hợp đồng cho thuê tài chính được xác lập giữa hai doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và cùng có mục đích lợi nhuận. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại phường P, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Toà án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho các đương sự. Đại diện hợp pháp của Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng
5
hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không đề nghị xem xét, áp dụng thời hiệu khởi kiện.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289/HĐCTTC: ngày 05/07/2023, BSL đã cấp tín dụng cho T1 An Toàn Cầu thông qua hình thức cho thuê tài chính với tổng số tiền nhận nợ là 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng), đồng thời đã bàn giao tài sản thuê mua (01 máy khoan cọc nhồi nhãn hiệu Zoomlion, Model: ZR280C-2, số khung: 002425317A0400000HT200103, số máy: 5359421, xuất sứ: Trung Quốc, năm sản xuất: 2020; 02 cần kelly khoan đá; 02 gầu khoan đá D1200; 01 gầu cắt vành D1200) cho Tín An Toàn C quản lý và khai thác. Đối với tính hợp pháp của Hợp đồng cho thuê tài chính, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận và không có ý kiến phản đối gì.
Xét Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289/HĐCTTC ngày 05/07/2023 được BSL và Tín An Toàn C xác lập trên cơ sở tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực và được xem xét làm căn cứ giải quyết.
[2.4] Về số tiền nợ gốc:
- Ngày 17/7/2023, BSL đã cấp tín dụng thông qua hình thức cho thuê tài chính với tổng số tiền là 10.000.000.000 đồng cho Công ty Đ và bàn giao tài sản cho thuê để Công ty Đ sử dụng.
- Ngày 17/8/2023, Tín An Toàn C thanh toán được 79.452.055 đồng tiền lãi (theo Hoá đơn GTGT số 5363 ngày 18/8/2023).
- Ngày 15/9/2023, Tín An Toàn C thanh toán được 84.931.507 đồng tiền lãi (theo Hoá đơn GTGT số 6041 ngày 15/9/2023).
- Ngày 16/10/2023, Tín An Toàn C thanh toán được 915.525.114 đồng, trong đó có 833.333.333 đồng nợ gốc, 82.191.781 đồng tiền lãi (Hoá đơn GTGT số 7332 ngày 31/10/2023).
- Ngày 15/11/2023 và 19/12/2023, Tín An Toàn C thanh toán được 141.941.891 đồng tiền lãi (Hoá đơn GTGT số 8596 ngày 21/12/2023).
- Ngày 24/01/2024, Tín An Toàn C thanh toán 403.476.136 đồng tuy nhiên không đủ số tiền thanh toán của kỳ trả nợ Tháng 01 năm 2024, do vậy BSL đã thực hiện trích tiền ký cược theo thoả thuận tại Hợp đồng để thu nợ, cụ thể là 429.857.197 đồng thu vào nợ gốc, còn lại 70.142.803 đồng thu vào nợ lãi.
6
- Ngày 23/02/2024, Tín An Toàn C nộp ký cược 61.712.330 đồng, ngày 19/3/2024, Tín An Toàn C nộp thêm 57.602.740 đồng. Tổng số tiền 119.315.070 đồng này được BSL hoàn trả tiền ký cược sau đó dùng hạch toán thu nợ lãi vào các 07/5/2024 và 25/4/2025 toàn bộ số tiền bổ sung ký cược nêu trên.
Theo đó, tổng số tiền nợ gốc Tín An Toàn C đã thanh toán là 1.666.666.666 đồng, số tiền gốc còn nợ đến nay là 8.333.333.334 đồng (tám tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi tư đồng).
[2.5] Về nợ lãi, phí, phạt:
[2.5.1] Về thoả thuận áp dụng lãi, lãi suất, phí phạt ghi nhận trong hợp đồng:
- Lãi trong hạn: các bên thoả thuận trong hợp đồng mức lãi cho thuê trong hạn là lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân VNĐ 12 tháng trả lãi sau, cộng biên độ 3,7%; điều chỉnh 03 tháng/lần. Tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên thoả thuận lãi suất tham chiếu là 6,3%/năm, lãi cho vay trong hạn là 10%/năm.
Nguyên đơn giao nộp văn bản số 104/2022/TB-BSL.HN ngày 13/12/2023 về việc thay đổi lãi suất áp dụng đối với Tín A, theo đó thì kể từ ngày 13/12/2023 mức lãi suất tham chiếu áp dụng cho các Hợp đồng thuê tài chính là 5%/năm, cộng biên độ 3,7%/năm thì mức lãi suất trong hạn là 8,7%/năm. Kể từ 13/12/2023 đến 07/5/2024 (ngày chấm dứt hợp đồng) BSL không thay đổi lãi suất đối với hợp đồng cho thuê tài chính, nên mức lãi suất áp dụng từ 13/12/2023 đến nay được xác định là 8,7%/năm.
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Lãi chậm trả: bằng lãi thuê đến hạn nhưng chưa được bên thuê thanh toán, nhân số ngày quá hạn, nhận 10%/năm.
- Phạt vi phạm biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng (tiền ký cược): theo Điều 6 tại Bản điều khoản và điều kiện chung kèm theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289 ngày 05/7/2023, các bên thoả thuận trường hợp bên thuê vi phạm nghĩa vụ nộp bổ sung khoản ký cược bị thiếu thì phải chịu khoản phạt vi phạm bằng 8% trên số tiền ký cược bị thiếu kể từ ngày vi phạm.
Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn không phản đối gì đối với toàn bộ nội dung hợp đồng cho thuê tài chính, trong đó bao gồm cả thoả thuận về lãi, phí, phạt. Do đó, có cơ sở để xem xét.
[2.5.2] Về số tiền lãi cụ thể:
- Lãi trong hạn:
7
+ Từ 15/01/2024 đến 24/01/2024 (09 ngày), nợ gốc trong hạn là 833.333.334đ, số tiền nợ lãi trong hạn là: 833.333.333đ x 8,7%/năm : 365 ngày x 09 ngày = 1.787.671 đồng.
+ Từ ngày 15/4/2024 đến 07/5/2024 (22 ngày), nợ gốc trong hạn là 7.500.000 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn là: 7.500.000₫ x 8,7%/năm : 365 ngày x 22 ngày = 39.329 đồng.
Tổng nợ lãi trong hạn là 1.787.671 đồng + 39.329 đồng= 1.827.000 đồng (một triệu, tám trăm hai mươi bẩy nghìn đồng) (1);
- Lãi quá hạn: Từ ngày 07/5/2024 đến ngày 28/11/2025, nợ gốc là 8.333.333.334 x 8,7%/năm x 150% x 01 năm 06 tháng 22 ngày = 1.696.797.945 đồng (một tỷ, sáu trăm chín mươi sáu triệu, bẩy trăm chín mươi bẩy nghìn, chín trăm bốn mươi lăm đồng) (2);
- Phí phạt trên nợ lãi chậm trả:
+ Từ 07/5/2024 đến 28/11/2024: nợ lãi trong hạn chậm trả là 39.328.767 đồng x 10%/năm x 01 năm 06 tháng 22 ngày = 6.136.365 đồng;
+ Từ 31/12/2024 đến 28/11/2025: nợ lãi trong hạn chậm trả là 472.739.726 đồng x 10%/năm x 332 ngày = 42.999.887 đồng;
+ Từ ngày 20/02/2025 đến 28/11/2025: nợ lãi trong hạn chậm trả là 101.301.370 đồng x 10%/năm x 281 ngày = 7.798.818 đồng;
+ Từ ngày 15/4/2025 đến 28/11/2025: nợ lãi trong hạn chậm trả là 107.260.274 đồng x 10%/năm x 228 ngày = 6.700.094 đồng;
Tổng phí phạt trên nợ lãi chậm trả là: 6.136.365 đồng + 42.999.887 đồng + 7.798.818 đồng + 6.700.094 đồng = 63.635.164 đồng (sáu mươi ba triệu, sáu trăm ba mươi lăm nghìn, một trăm sáu mươi tư đồng) (3).
- Phí phạt sử dụng tiền kỹ quỹ: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chỉ tính đến ngày chấm dứt hợp đồng (07/5/2025), theo đó số tiền phạt do bị đơn vi phạm nghĩa vụ nộp bổ sung khoản ký cược bị thiếu (8%) với tổng số tiền là 59.693.757 đồng (năm mươi chín triệu, sáu trăm chín mươi ba nghìn, bẩy trăm năm mươi bẩy đồng) (4).
Tổng số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, phạt bằng (1) + (2) + (3) + (4) = 1.821.953.867 đồng (một tỷ, tám trăm hai mươi mốt triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn, tám trăm sáu mươi bẩy đồng).
[2.5.3] Theo bảng tính do nguyên đơn giao nộp thì tổng số tiền lãi (bao gồm cả lãi trong hạn và quá hạn), phí, phạt tính đến ngày 28/11/2025 là 1.810.493.293 đồng (một tỷ, tám trăm mười triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm chín mươi ba đồng) là thấp hơn so với cách tính của Hội đồng xét xử và có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.
8
[2.6] Bị đơn đã vi phạm Hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho BSL thì phải có nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 91 và Điều 93 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Do vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của BSL, buộc Công ty Đ phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 10.203.520.384 đồng (mười tỷ, hai trăm lẻ ba triệu, năm trăm hai mươi nghìn, ba trăm tám mươi tư đồng), bao gồm 8.333.333.334 đồng nợ gốc, 1.810.493.293 đồng nợ lãi và phạt vi phạm hợp đồng.
[2.7] Bị đơn phải tiếp tục thanh toán số tiền nợ lãi, phạt vi phạm hợp đồng phát sinh kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất thoả thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[3] Xét yêu cầu thu hồi tài sản của nguyên đơn:
Căn cứ vào thoả thuận của các bên tại Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289/HĐCTTC ngày 05/7/2023 (Điểm 10.2.11 Điều 10, Điểm 11.5.1 Điều 11, Điều 12) và Nghị định số 39/NĐ-CP thì bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản thuê trong trường hợp bên thuê vi phạm nghĩa vụ. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc thu hồi tài sản thuê có căn cứ chấp nhận.
Trường hợp thu hồi tài sản thuê mua thì các cá nhân/tổ chức đang quản lý, sử dụng tài sản thuê mua có nghĩa vụ chấp hành.
[4] Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê tài chính không đủ thanh toán hết khoản nợ, thì bị đơn có nghĩa vụ thanh toán phần còn thiếu theo thoả thuận tại Điểm 11.5.2 Điều 11 của Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289/HĐCTTC ngày 05/7/2023.
[5] Ý kiến của Công ty Đ về việc tại Biên bản làm việc ngày 11/06/2024 giữa hai bên không xác định thời hạn trả nợ nên Công ty B không được phép khởi kiện là không có căn cứ, bởi nội dung biên bản nêu trên chỉ có ý nghĩa xác nhận dư nợ mà Công Ty Đ có trách nhiệm phải trả. Tiến độ trả nợ đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng và ngày 07/05/2024, Công ty B đã có thông báo Chấm dứt hợp đồng và thu hồi nợ trước hạn do vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 11.11.1 của Hợp đồng Cho Thuê Tài Chính nhưng Công ty Đ không thực hiện. Do vậy, việc khởi kiện của Công ty B là có căn cứ.
[6] Công ty TNHH X không yêu cầu giải quyết “Hợp đồng thuê máy khoan cọc nhồi ZR280C-2” số 2024/HĐ/TATC-ĐH đối với Công ty CP Đ nên HĐXX không xem xét. Trường hợp giữa Công ty X và Công ty Đ có tranh chấp liên quan đến Hợp đồng thuê máy khoan cọc nhồi nêu trên thì có quyền khởi kiện vụ án khác.
[7] Về án phí:
9
- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hoàn trả nguyên đơn là Công ty C1 - SuMi TRUST số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 và các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 292, 329, 351, 357 (Khoản 1), 360, 385, 398, 401, 410, 413, 418, 422, 428 (Khoản 1), 463 và 688 của Bộ luật Dân sự;
- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ về hoạt động của Công ty C1 và Công ty cho thuê tài chính;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11.01.2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Công ty C1 - SuMi TRUST đối với Bị đơn - Công ty Cổ phần Đ về tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính số 21723000289/HĐCTTC ngày 05/7/2023:
[1.1] Buộc Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C1 - SuMi TRUST số tiền 8.333.333.334 đồng (tám tỷ, ba trăm ba mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi tư đồng) nợ gốc, 1.810.493.293 đồng (một tỷ, tám trăm mười triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn, hai trăm chín mươi ba đồng) tiền lãi và tiền phạt vi phạm hợp đồng. Tổng số tiền là 10.203.520.384 đồng (mười tỷ, hai trăm linh ba triệu, năm trăm hai mươi nghìn, ba trăm tám mươi tư đồng).
[1.2] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Đ còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh và phạt vi phạm theo thoả thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính số
10
21723000289/HĐCTTC ngày 05/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[1.3] Công ty C1 có quyền chủ động thu hồi tài sản thuê hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi tài sản thuê, gồm:
- 01 máy khoan cọc nhồi nhãn hiệu Zoomlion, Model: ZR280C-2, số khung: 002425317A0400000HT200103, số máy: 5359421, xuất sứ: Trung Quốc, năm sản xuất: 2020;
- 02 cần kelly khoan đá;
- 02 gầu khoan đá D1200;
- 01 gầu cắt vành D1200.
[1.4] Tài sản thuê tài chính nêu tại tiểu mục [1.3] mục [1] nêu trên được xử lý để thanh toán cho các khoản nợ của Công ty Cổ phần Đ được nêu ở tiểu mục [1.1] và [1.2] mục [1] phần Quyết định của Bản án này. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ thanh toán phần còn thiếu.
[1.5] Trong quá trình xử lý tài sản nêu trên thì các cá nhân/tổ chức đang quản lý, sử dụng (nếu có) đều có nghĩa vụ chấp hành bản án.
2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí, quyền kháng cáo:
- Công ty Cổ phần Đ phải liên đới chịu 118.203.500 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Hoàn trả Công ty C1 58.450.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0051382 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Long Biên (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hà Nội).
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
11
Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc A
Bản án số 38/2025/KDTM-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 38/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
