|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 37/2026/DS-PT Ngày 15/01/2026 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Vũ Hồng Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 427/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 68/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 519/2025/QĐ-PT ngày 14/11/2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 1826/2025/TB-TA ngày 04/12/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 1229/2025/QĐ-PT ngày 29/12/2025 giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Địa chỉ: Tầng A, tầng B, tòa nhà S, số A đường P, phường B, Quận A (nay là phường S), thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Tấn T - Giám đốc trung tâm Q (theo giấy ủy quyền số 206898.25, ngày 15/7/2025 của Tổng giám đốc). Ông T ủy quyền lại cho ông Lê Việt T1 - Giám đốc xử lý nợ vùng - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (theo giấy ủy quyền số 206936.25, ngày 15/7/2025 của ông T). Ông T1 ủy quyền lại cho ông Ngô Quốc T2, ông Nguyễn Toàn T3, ông Đỗ Quang Đ, ông Hoàng Trương Hảo A - nhân viên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (theo giấy ủy quyền số 242878.25, ngày 14/8/2025).
Địa chỉ: Tầng A, số A đường P, phường B, Quận A (nay là phường S), thành phố Hồ Chí Minh.
-
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M - sinh năm 1975
Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Nguyễn Đức A1 - sinh năm 1997.
Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn A2 - sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Số nhà A, tổ D, ấp T, xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai.
(Tại phiên toà, ông Nguyễn Toàn T3, ông Lê Nguyễn Đức A1 có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Toàn T3 trình bày:
Ngày 05/9/2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (viết tắt: Ngân hàng) cho bà Nguyễn Thị M vay số tiền 3.479.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 1481969.23, ngày 05/09/2023 các bên đã ký kết.
Thời hạn vay là 252 tháng, tính ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 26/09/2044. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân bằng 5,00%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 2,2%/năm.
Ngày 27/09/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị M theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 1481969(2).23 với số tiền 3.479.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Khi vay bà Nguyễn Thị M có thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 430, diện tích 528,1m², tờ bản đồ 24, tọa lạc tại xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 691794 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 06/11/2023 cho bà Nguyễn Thị M theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9099856.23.609, ngày 15/12/2023 đã được Công chứng tại Văn phòng C số công chứng 005367, quyển số 14/2023/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 15/12/2023.
Trong quá trình vay vốn tại Ngân hàng, bà Nguyễn Thị M đã trả cho Ngân hàng số tiền 137.253.698 đồng (trong đó nợ gốc 0 đồng và nợ lãi 137.253.698 đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo nội dung đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 27/01/2024 và đang xếp loại nợ nhóm 4 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của Ngân hàng N.
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền 4.055.923.047 đồng, tất cả tính đến ngày 29/8/2025, trong đó: nợ gốc 3.479.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 123.671.302 đồng, lãi quá hạn 453.251.745 đồng.
- Kể từ ngày 30/8/2025, bà Nguyễn Thị M phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng số 1481969.23, ngày 05/9/2023 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1481969 (2).23, ngày 27/9/2023 cho đến khi tất toán xong khoản vay.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị M không thanh toán được toàn bộ khoản nợ gốc và lãi hoặc không trả hết nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m² tọa lạc tại xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 691794, ngày 06/11/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp cho bà Nguyễn Thị M để thu hồi nợ.
- Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ đến cho khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
Tài sản trên đã được bà Nguyễn Thị M thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9099856.23.609, ngày 15/12/2023, số công chứng 005367, quyển số 14/2023/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 15/12/2023 để thu hồi số tiền nợ gốc và nợ lãi.
- Về chi phí tố tụng: Số tiền 2.500.000 đồng về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Nguyễn Đức A1 trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Bà Nguyễn Thị M có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền gốc 3.479.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 1481969.23, ngày 05/09/2023 đã ký kết giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị M.
Thời hạn vay là 252 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 26/9/2044. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân bằng 5,00%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng.
Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 2,2%/năm, mỗi tháng trả 14.870.000 đồng, tháng cuối trả tất cả dư nợ còn lại theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1481969 (2).23, ngày 27/9/2023.
Trong quá trình vay vốn bà Nguyễn Thị M đã trả cho Ngân hàng được số tiền là 137.253.698 đồng (trong đó: nợ gốc 00 đồng, nợ lãi 137.253.698 đồng).
Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị M không đồng ý do hiện nay bà M đang tìm mọi phương án để trả nợ cho Ngân hàng và xin thêm thời gian để thỏa thuận với Ngân hàng.
Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị M đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 3.479.000.000 đồng và không đồng ý trả tiền lãi trong hạn là 123.671.302 đồng, lãi quá hạn 453.251.745 đồng, tất cả tính đến ngày 29/8/2025. Bà Nguyễn Thị M đồng ý phát mãi tài sản là thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m² tọa lạc tại xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai nhưng số tiền phát mãi phải lớn hơn số tiền vay.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn A2 trình bày:
Ông là chồng cũ của bà Nguyễn Thị M (đã ly hôn vào năm 2018). Hiện nay, ông chỉ ở nhờ trên thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m² tọa lạc tại xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai. Ông cũng không biết bà Nguyễn Thị M vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và vay số tiền bao nhiêu vì ông không quan tâm, ai vay thì người đó trả. Trường hợp phải phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m² thì ông tự nguyện dọn ra ngoài chấp hành theo quy định của pháp luật. Do ông không liên quan gì trong vụ án này nên đề nghị Tòa án không mời ông làm việc và đề nghị cho ông được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc về công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử. Ngoài ra, ông không có ý kiến gì khác.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Các đương sự không giao nộp, bổ sung tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai đã áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 351, Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 100, Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị M về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền nợ gốc 3.479.000.000đ (ba tỷ bốn trăm bảy mươi chín triệu đồng), nợ lãi trong hạn 123.671.302đ (một trăm hai mươi ba triệu sáu trăm bảy mươi mốt ngàn ba trăm lẻ hai đồng), lãi quá hạn 453.251.745đ (bốn trăm năm mươi ba triệu hai trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm bốn mươi lăm đồng), tổng cộng số tiền 4.055.923.047đ (bốn tỷ không trăm năm mươi lăm triệu chín trăm hai mươi ba ngàn không trăm bốn mươi bảy đồng), tất cả tính đến ngày 29/8/2025.
- Sau khi bà Nguyễn Thị M trả hết số tiền nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có trách nhiệm giải chấp và giao trả cho bà Nguyễn Thị M bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DM 691794 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp cho bà Nguyễn Thị M vào ngày 06/11/2023 đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9099856.23.609, ngày 15/12/2023 được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 15/12/2023.
- Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có đơn yêu cầu Thi hành án nếu bà Nguyễn Thị M không thanh toán số nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m² tọa lạc tại xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 691794, ngày 06/11/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp cho bà Nguyễn Thị M để thu hồi nợ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị M phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000₫ (hai triệu năm trăm ngàn đồng).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà M phải chịu 300.000.đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001142 ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Bà Nguyễn Thị M phải chịu số tiền 112.559.230đ (một trăm mười hai triệu năm trăm năm mươi chín ngàn hai trăm ba mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 51.818.000₫ (năm mươi mốt triệu tám trăm mười tám ngàn đồng) theo biên lai số 0000424 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3- Đồng Nai).
- Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 1481969.23, ngày 05/9/2023 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1481969 (2).23, ngày 27/9/2023 cho đến khi tất toán xong khoản vay.
Tài sản trên đã được bà Nguyễn Thị M thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9099856.23.609, ngày 15/12/2023, số công chứng 005367, quyển số 14/2023/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 15/12/2023 để thu hồi số tiền nợ gốc và nợ lãi.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay thì bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay thì bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/9/2025 bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 68/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng miễn lãi suất quá hạn và cho kéo dài trả nợ trong thời hạn 03 năm.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn được nộp trong thời hạn luật định; nội dung và hình thức của đơn phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ vào lời khai và các chứng cứ đã thu thập, có cơ sở xác định:
Bà Nguyễn Thị M có vay vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo Hợp đồng tín dụng số 1491969.23 ngày 05/9/2023 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 1481969(2).23 ngày 27/9/2023 với số tiền 3.479.000.000 đồng.
Thời hạn vay là 252 tháng, bắt đầu từ ngày tiếp theo sau ngày giải ngân đến ngày 26/9/2044. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 5,00%/năm, áp dụng trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân. Sau thời gian ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần, bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 2,2%/năm. Mỗi tháng, bà M phải thanh toán 14.870.000 đồng; tháng cuối cùng thanh toán toàn bộ dư nợ còn lại.
Để đảm bảo cho khoản vay, bà Nguyễn Thị M đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m², tọa lạc tại xã Đ (nay là xã A), huyện T, tỉnh Đồng Nai. Thửa đất này đứng tên bà Nguyễn Thị M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 691794 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 06/11/2023. Hợp đồng thế chấp được lập theo Hợp đồng số 9099856.23.609 ngày 15/12/2023, được công chứng tại Văn phòng C theo số công chứng 005367, quyển số 14/2023/TP/CC-SCC/HĐGD cùng ngày.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nêu trên tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại các Điều 298, 335, 342, 385, 398, 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến việc Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và khởi kiện là có căn cứ theo thỏa thuận giữa các bên, đồng thời phù hợp với Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (29/8/2025), bà M còn nợ Ngân hàng:
- - Nợ gốc: 3.479.000.000 đồng
- - Lãi trong hạn: 123.671.302 đồng
- - Lãi quá hạn: 453.251.745 đồng
- Tổng cộng: 4.055.923.047 đồng
Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện uỷ quyền của bà M ông Lê Nguyễn Đức A1 thừa nhận số nợ gốc và lãi trong hạn và quá hạn như cấp sơ thẩm đã tuyên là đúng. Tuy nhiên, người đại diện uỷ quyền của bà B M ông Lê Nguyễn Đức A1 đề nghị Hội đồng xét và phía ngân hàng miễn số tiền lãi suất quá hạn và cho bà M kéo dài trả nợ trong thời hạn 03 năm nhưng không được phía ngân hàng đồng ý.
Hội đồng xét xử nhận thấy việc bà M vi phạm nghĩa vụ trả nợ cả về gốc và lãi là rõ ràng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi, cũng như xử lý tài sản bảo đảm là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên tại các Điều 2, 5, 9 của Hợp đồng tín dụng và Điều 4 của Hợp đồng thế chấp. Đồng thời, yêu cầu khởi kiện cũng phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể là các Điều 117, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 418, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật. Kháng cáo của bà Nguyễn Thị M không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà M phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[5] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 68/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.
Áp dụng Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 351, Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 100, Điều 103 của Luật các Tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với bị đơn bà Nguyễn Thị M về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền nợ gốc 3.479.000.000đ (ba tỷ bốn trăm bảy mươi chín triệu đồng), nợ lãi trong hạn 123.671.302đ (một trăm hai mươi ba triệu sáu trăm bảy mươi mốt ngàn ba trăm lẻ hai đồng), lãi quá hạn 453.251.745đ (bốn trăm năm mươi ba triệu hai trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm bốn mươi lăm đồng), tổng cộng số tiền 4.055.923.047đ (bốn tỷ không trăm năm mươi lăm triệu chín trăm hai mươi ba ngàn không trăm bốn mươi bảy đồng), tất cả tính đến ngày 29/8/2025.
- Sau khi bà Nguyễn Thị M trả hết số tiền nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có trách nhiệm giải chấp và giao trả cho bà Nguyễn Thị M bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DM 691794 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp cho bà Nguyễn Thị M vào ngày 06/11/2023 đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9099856.23.609, ngày 15/12/2023 được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 15/12/2023.
- Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có đơn yêu cầu Thi hành án nếu bà Nguyễn Thị M không thanh toán số nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 430, tờ bản đồ số 24, diện tích 528,1 m² tọa lạc tại xã Đ, huyện T (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 691794, ngày 06/11/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp cho bà Nguyễn Thị M để thu hồi nợ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị M phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q chi phí tố tụng về xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.500.000₫ (hai triệu năm trăm ngàn đồng).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà M phải chịu 300.000.đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001142 ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Bà Nguyễn Thị M phải chịu số tiền 112.559.230đ (một trăm mười hai triệu năm trăm năm mươi chín ngàn hai trăm ba mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 51.818.000₫ (năm mươi mốt triệu tám trăm mười tám ngàn đồng) theo biên lai số 0000424 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3- Đồng Nai).
- Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 1481969.23, ngày 05/9/2023 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1481969 (2).23, ngày 27/9/2023 cho đến khi tất toán xong khoản vay.
Tài sản trên đã được bà Nguyễn Thị M thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9099856.23.609, ngày 15/12/2023, số công chứng 005367, quyển số 14/2023/TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 15/12/2023 để thu hồi số tiền nợ gốc và nợ lãi.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay thì bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Ninh |
Bản án số 37/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
