|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 37/2026/HS-PT Ngày 19 tháng 01 năm 2026 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh |
| Các Thẩm phán: | Ông Chung Văn Kết Ông Hoàng Minh Thịnh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi – Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt H – Kiểm sát viên.
Ngày 13, 19 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 486/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với vụ án Phạm Hoàng Nhất L, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Hoàng Nhất L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 244/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4249/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2025.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Hoàng Nhất L, sinh ngày 02/11/2005 tại tỉnh Đồng Nai; Số căn cước công dân: 075205006629, cấp ngày 20 tháng 08 năm 2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Nơi thường trú: ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp H, xã T, tỉnh Đồng Nai). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không, nghề nghiệp: Làm rẫy, trình độ học vấn: lớp 11/12.; Con ông Phạm Phương N, sinh năm 1984 và bà Mai Thị Ngọc P, sinh năm 1983. Gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ con.
Tiền án: ngày 14/11/2023, bị cáo Phạm Hoàng Nhất L bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm, về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” tại Bản án số 244/2023/HSST (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Văn T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị hại không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Nguyễn Hoàng Ngọc Y, sinh ngày 08/8/2007, thường trú tại phường L, tỉnh Đồng Nai; tạm trú tại xã B, tỉnh Đồng Nai và Lê Bảo H1, sinh ngày 12/12/2008, thường trú tại xã T, tỉnh Đồng Nai có xảy ra mâu thuẫn trong sinh hoạt hằng ngày trước đó.
Vào khoảng 15 giờ 10 phút, ngày 01/7/2024 Y nhắn tin vào nhóm M gồm các thành viên: Nguyễn Hoàng Ngọc Y, Lê Bảo H1, Nguyễn Đỗ Hà M1, sinh ngày 16/8/2007, thường trú tại xã B, tỉnh Đồng Nai; Huỳnh Nguyễn Trúc T1, sinh ngày 20/10/2007, thường trú tại khu phố B, xã T, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Thanh P1, sinh ngày 08/03/2009, thường trú tại ấp Q, xã T, tỉnh Đồng Nai. Nhóm Messenger này của các bạn học cùng trường phổ thông do M1 tạo lập và làm trưởng nhóm. Y nhắn vào nhóm M nội dung “muốn đến nhà H1 để giải quyết mâu thuẫn cá nhân”, mâu thuẫn do Y nói xấu H1 bị nhiễm HIV. Sau khi đọc được tin nhắn trên, H1 nhắn tin vào nhóm M và hẹn gặp Y vào lúc 21 giờ 15 phút cùng ngày tại cổng Công ty D1 - KCN G để giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 21 giờ 00 phút, Y đang ở nhà cùng với bạn trai là Bùi Duy L1, sinh năm 2003, thường trú tại ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ, thì nhận được tin nhắn trên nhóm và điện thoại của H1 hẹn gặp Y tại đầu cầu G để giải quyết mâu thuẫn. Duy L1 mang theo 01 cây kiếm bằng sắt, dài 53 cm, rộng 02 cm, kiếm được đút vào vỏ ống típ sắt hình tròn, bên ngoài có vỏ bao bằng vải màu đen, giấu trong áo khoác mặc trên người. Sau đó, Duy L1 điều khiển xe mô tô biển số 69N1-647.93 (của ông Bùi Bá T2 (cha ruột Duy L1) mua lại của bà Đặng Diễm M2, sinh năm 1996, thường trú tại ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là xã Đ, tỉnh Cà Mau, nhưng chưa làm thủ tục sang tên) chở Y đi gặp H1.
Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, H1 từ Công ty D1 - KCN G ra về và đứng đợi Y tại đầu cầu G thì gặp bạn làm cùng Công ty với H1 là Thái Anh K, sinh năm 2006, thường trú tại ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai. K hỏi H1 “đứng đây làm gì?” Hân nói “đứng đợi Y để giải quyết mâu thuẫn”. Sau đó K và H1 đi đến đứng tại đầu cổng chào của ấp H, xã T, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 21 giờ 15 phút, M1 đi cùng T1, P1 và Nguyễn Văn L2, sinh năm 2004, thường trú tại ấp E, xã T, tỉnh Đồng Nai từ quán cà phê tại xã X đến gặp H1 và K đang đứng tại đầu cổng chào của ấp H, xã T. Khoảng 21 giờ 30 phút thì Phạm Hoàng Nhất L đi làm về và nhìn thấy H1, K, Mỹ, T1, L2, P1 đang đứng đầu đường về nhà L. Do L có quen biết với H1 nên dừng xe lại hỏi H1 “có việc gì mà đứng ở đây?” H1 kể cho L biết việc “Y nói H1 bị nhiễm HIV” và H1 hẹn gặp Y để giải quyết mâu thuẫn. H1 rủ L cùng tham gia đi giải quyết mâu thuẫn giúp Y thì L đồng ý, sau đó L và H1 chạy xe về nhà L để cất xe của H1. Sau khi L thay quần áo thì L lấy xe mô tô biển số 60F3-476.57 (của ông Phạm Phương N (cha ruột L) mua lại của bà Nguyễn Phi T3, sinh năm 1990, thường trú tại tại C, tổ I, khu C, ấp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nay là phường L, tỉnh Đồng Nai nhưng chưa làm thủ tục sang tên) đang dựng ở nhà chở H1 đến đầu cầu G. Khi đến đầu cầu G thì L và H1 gặp Bùi Duy L1 chở Y ngồi sau, H1 dẫn L1 và Y đi vào đoạn đường nhựa, không có đèn đường, không có người dân sinh sống, thuộc ấp H, xã T, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, H1 gửi định vị vị trí lên nhóm M3 để M1, T1 và P1 biết đường đi đến.
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 01/7/2024, Y và Duy L1 xảy ra cãi nhau, xô xát với H1; lúc này L thấy Duy L1 đứng cùng tham gia giải quyết mâu thuẫn giữa Y và H1 nên L đến dùng tay đẩy Duy L1 ra và nói với Duy L1 “chuyện của con gái thì để tự giải quyết”. Bùi Duy L1 rút ống típ sắt tròn dài 53 cm trong người ra đánh L. K thấy Duy L1 cầm ống típ sắt đánh L thì xông vào rút 01 con dao cán gỗ lưỡi bằng kim loại dài 6,5 cm, lưỡi rộng 03cm, đầu nhọn, cán dao và lưỡi dao dài 14 cm (loại dao tự chế dùng để cắt hàng trong công ty) đang cất ở trong túi quần phía sau ra thì bị Duy L1 cầm ống típ sắt giơ lên đánh K. K đưa tay lên đỡ và cúi người xuống giơ dao lên ngang hông người của Duy L1 và đâm 01 nhát trúng thành bụng trái của Duy L1. Duy L1 thấy máu chảy thấm ra áo thì lùi lại phía sau và ngồi xuống rút kiếm trong ống típ sắt ra, nối lưỡi kiếm vào ống típ (thành 01 cây kiếm dài 87 cm) rồi cầm đuổi chém K và L nhưng không đuổi kịp. Sau đó, Duy L1 quay lại thấy H1 và Y đang nắm tóc đánh nhau, L1 nói “buông con Y ra” đồng thời tay trái nắm lấy mũ áo khoác của H1 kéo ra, sau khi H1 và Y buông nhau ra thì Duy L1 lấy xe mô tô và đội mũ bảo hiểm chở Y đi về hướng nhà thờ G.
Do L bực tức vì bị Duy L1 cầm ống típ sắt và kiếm đánh, đuổi chém L và K nên khi nhìn thấy Duy L1 lấy xe chở Y đi về thì L lấy xe mô tô đuổi theo Duy L1 để đánh trả thù. Trên đường đuổi theo Duy L1, L dừng xe bên lề đường và nhặt được 01 cục bê tông (loại bê tông cát, xi, đá không rõ hình dạng) có kích thước 10 cm x 0,9 cm, dày khoảng 05 cm. Khi L đuổi theo đến gần trường học Trần Quốc T4, đoạn đường không có đèn đường, lúc này xe của L cách xe của Duy L1 và Y khoảng 03 mét; L cầm 01 cục bê tông chuyển từ tay trái sang tay phải, đồng thời bắt chéo tay trái sang phía tay phải để giữ tay lái xe mô tô và xoay người ném cục xà bần về phía Duy L1 và Y thì nghe tiếng “bốp” rồi tăng ga vượt xe lên phía trước. Duy L1 bị L ném bất ngờ nên dừng xe lại thì phát hiện trên đầu thái dương bên trái chảy máu, Duy L1 tiếp tục chở Y chạy vào trụ sở UBND xã G và được lực lượng dân quân xã đưa đến trạm xá và Trung tâm y tế huyện T, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1, tỉnh Đồng Nai để điều trị thương tích.
Đến ngày 26/9/2024, Cơ quan Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã bắt giữ Phạm Hoàng Nhất L.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng Nhất L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- + 01 con dao cán gỗ lưỡi bằng kim loại dài 14 cm (do Thái Anh K tự nguyện giao nộp).
- + 01 cục xà bần bêtông (loại bê tông cát, xi, đá) không rõ hình dạng, có kích thước 10 cm x 0,9 cm, x 05 cm (do Phạm Hoàng Nhất L tìm thấy tại hiện trường và tự nguyện giao nộp).
- + 01 kiếm dài 87 cm của Bùi Duy L1 do Công an xã G thu giữ tại nhà vệ sinh của UBND xã G.
- + 01 xe mô tô biển số 69N1-647.93. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là ông Bùi Bá T2 (tại bút lục số 345 đến 346).
- + 01 xe mô tô biển số 60F3- 476.57. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Phương N (bút lục số 347 đến 348).
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu Trắng, mặt sau điện thoại có vết nứt trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Hoàng Ngọc Y (bút lục số 349).
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng Gold, mặt sau điện thoại có nhiều vết nứt trả lại cho chủ sở hữu là Lê Bảo H1 (bút lục số 350).
Kết quả giám định:
- Tại Bản kết luận giám định số 0754/KLTTCT-TTPYĐN ngày 07/8/2024 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ xác định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Bùi Duy L1, sinh năm 2003, như sau:
- + Sẹo vùng trán trái ngoài chân tóc không thẳng hàng kích thước nhỏ. Tỷ lệ 03%.
- + Sẹo mổ bán cầu trái kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
- + Sẹo mổ dẫn lưu vùng đỉnh kích thước nhỏ. Tỷ lệ 01%.
- + Sẹo mổ trán thái dương trái kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
- + Sẹo thành bụng trái (hông trái) kích thước nhỏ. Tỷ lệ 01%.
- + Khuyết sọ vùng trán trái kích thước 5,8 x 06 cm, đáy chắc. Tỷ lệ 16%.
- + Khuyết sọ vùng trán trái kích thước 5,6 x 7,7cm, đáy chắc. Tỷ lệ 26%.
- + Tụ máu ngoài màng cứng đã điều trị khỏi. Tỷ lệ 05%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Duy L1, sinh năm 2003 tại thời điểm giám định là 46 % (Bốn mươi sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác:
- Vật gây thương tích:
+ Thương tích đầu: Vật tày.
+ Thương tích thắt lưng trái (hông trái), Vật sắc hoặc sắc nhọn”. (bút lục số 43 đến 44).
- Đối với Bùi Duy L1: Có hành vi mang 01 (một) kiếm có lưỡi dài 34 cm được ngụy trang trong 01 ống tuýp sắt dài 53 cm để đi đánh nhau với Thái Anh K và Phạm Hoàng Nhất L nhưng không gây thương tích cho L và K nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo điểm b, khoản 4, Điều 7 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
- Đối với Thái Anh K: Có hành vi dùng 01 con dao cán gỗ lưỡi bằng kim loại dài 6,5 cm, lưỡi rộng 03 cm, đầu nhọn (loại dao tự chế dùng để cắt hàng trong công ty) cán dao và lưỡi dao dài 14 cm đâm anh Bùi Duy L1 gây thương tích với tỷ lệ 01%. Quá trình điều tra, Thái Anh K đã bồi thường cho Bùi Duy L1 số tiền 30.000.000 đồng và Bùi Duy L1 đã có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo điểm b, khoản 4, Điều 7 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
- Đối với hành vi của Lê Bảo H1, Nguyễn Hoàng Ngọc Y:
Tại Công văn số 171/CV-UBND ngày 07/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã G xác định vụ việc xảy ra tại đầu đường nhựa của cổng phụ số 1, khu D và trên đường N – Giang Đ thuộc ấp B xã G và khoảng thời gian 22 giờ đêm không gây náo động trật tự ở nơi công cộng và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Bảo H1, Nguyễn Hoàng Ngọc Y nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Bảo H1, Nguyễn Hoàng Ngọc Y theo điểm a, khoản 1, Điều 7 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Tại Bản cáo trạng số 98/CT-VKSĐN-P2, ngày 11/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng Nhất Long về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 244/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 403/2025/TB-TA ngày 03/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã quyết định:
“...Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 56, Điều 57 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Tuyên bố bị cáo Bị cáo Phạm Hoàng Nhất L phạm tội “Giết người”;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Nhất L 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” tại Bản án số 244/2023/HSST ngày 14/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Trảng Bom (nay là Toà án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai); buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của 02 tội là 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 06/10/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Hoàng Nhất L, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Hoàng Nhất L vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Bị cáo đã có hành vi ném đá vào đầu bị hại là nguy hiểm tính mạng, sức khỏe, bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm, cấp sơ thẩm xét xử phạt bị cáo 13 năm tù là phù hợp, đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Hoàng Nhất L tranh luận: bị cáo đã tác động gia đình đến nhà bị hại để bồi thường nhưng bị hại đã bỏ đi khỏi địa phương, gia đình bị cáo đã nộp 10 triệu đồng tại cơ quan thi hành án dân sự thể hiện mong muốn được bồi thường cho bị hại, mức án cấp sơ thẩm xử bị cáo là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Xét hành vi phạm tội và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 01/7/2024 bị cáo L đi xe mô tô đuổi theo Duy L1 để đánh trả thù. L nhặt 01 cục bê tông (loại bê tông cát, xi, đá không rõ hình dạng) có kích thước 10 cm x 0,9 cm, dày khoảng 05 cm trên đường và ném về phía Bùi Duy L1 đang đi xe mô tô làm trúng vào thái dương bên trái đầu của Duy L1, gây thương tích khuyết sọ vùng trán, tụ máu ngoài màng cứng. Bùi Duy L1 được đưa đi chữa trị kịp thời không tử vong, kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 46%.
Hành vi của bị cáo L đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo từ mâu thuẫn nhỏ đã chấm dứt, bị hại D đã ra về thì bị cáo lại đuổi theo và dùng một cục bê tông bên đường ném mạnh vào vùng đầu anh L1, không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện tính côn đồ; nhân thân bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án tù cho hưởng án treo thì lại phạm tội với lỗi cố ý, nên phải xác định bị cáo tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuy nhiên chưa xem xét bị cáo đã tác động gia đình để nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại, việc bị hại bỏ đi khỏi địa phương nên không tham gia tố tụng tại phiên tòa và bị cáo không bồi thường được cho bị hại là do khách quan. Vì vậy, cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Ngoài hình phạt của bản án này, Tòa án còn tổng hợp hình phạt để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 244/2023/HSST ngày 14/11/2023 Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Nhất L 01 năm tù cho hưởng án treo, nay chuyển thành hình phạt tù có thời hạn.
[3] Ý kiến của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
[4] Đề nghị của Luật sư áp dụng tình tiết giảm nhẹ được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Hoàng Nhất L. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 244/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 (kèm theo Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 403/2025/TB-TA ngày 03/11/2025) của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 123; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
Xử phạt: bị cáo Phạm Hoàng Nhất L 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Tổng hợp hình phạt 01 năm tù của bản án số 244/2023/HSST Ngày 14/11/2023 Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử bị cáo về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024. - Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 19/01/2026./.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - Công an tỉnh Đồng Nai; - Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh Đồng Nai (tống đạt cho bị cáo); - Lưu HSVA, VTLT, (22b-TVN). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 37/2026/HS-PT ngày 19/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án hình sự về tội giết người
- Số bản án: 37/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoàng Nhất L phạm tội Giết người
