Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/DS-PT

Ngày: 21/01/2026

V/v Tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và ông Bùi Quốc Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự thụ lý số 498/2025/TLPT – DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2026/QĐ-PT ngày 07/01/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là tổ dân phố L, phường S, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.

- Bị đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là tổ dân phố L, phường S, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1988. Nơi cư trú: thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là thôn B, xã X, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Tô Thị T1, sinh năm 1958; Nơi cư trú: thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là thôn B, xã X, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.
  • + Bà Bùi Thị Kim B, sinh năm 1976; Nơi cư trú: thôn V, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là tổ dân phố V, phường S, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn Trương Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày:

Năm 2022, bà Lê Thị Thu H và bà Trương Thị L thỏa thuận góp vốn mua thửa đất của bà Nguyễn Thị Phương T, diện tích đất chuyển nhượng có giá là 15 hecta với giá 170.000.000đ/1 hecta (phần có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và 01 hecta còn lại là 80.000.000đ (không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Sau khi tiếp cận thông tin từ bà L, bà H tìm hiểu vị trí thửa đất và biết chủ đất là bà T nhưng bà H không đứng ra giao dịch trực tiếp với bà T mà mọi thủ tục, giấy tờ giao bà L trực tiếp giao dịch với bà T. Sau khi thống nhất giá cả, bà H đồng ý góp vốn với bà L để mua thửa đất, theo lời bà L có 04 người cùng góp vốn gồm: bà L, bà H, bà B và bà T1 – sau này bà T1 đã chuyển phần của bà T1 qua cho bà B với tổng số tiền 2.630.000.000₫ (Hai tỷ sáu trăm ba mươi triệu đồng). Bà H giao cho bà L 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) để đặt cọc, có làm giấy nhận tiền cọc do bà H viết và bà L trực tiếp ký tên nhưng đến nay bà L chưa hoàn tất việc nhận chuyển nhượng thửa đất của bà T.

Do đó, bà H yêu cầu bà L phải trả lại cho bà Hằng số tiền 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng đặt cọc giữa bà L và bà T.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị L trình bày:

Bà L thừa nhận vào năm 2022, bà L và bà H thống nhất hùn (góp) vốn mua đất của bà T, theo đó bà L, bà H, bà B và bà T1 thống nhất góp vốn đặt cọc mua đất của bà T, diện tích đất chuyển nhượng là 16 hecta với giá 2.630.000.000₫ (Hai tỷ sáu trăm ba mươi triệu đồng), trong đó 15 hecta với giá 170.000.000đ/1 hecta (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và 01 hecta là 80.000.000đ (không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Phần của bà H góp vốn để đặt cọc là 320.000.000đ (Ba trăm hai mươi triệu đồng). Bà L thừa nhận chữ ký Trương Thị L trong giấy nhận tiền cọc do bà H viết đúng là chữ ký của bà L.

Sau khi bà L đại diện làm thủ tục đặt cọc với bà T, giữa bà L và bà T xảy ra tranh chấp, không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên. Nay bà L đồng ý trả lại cho bà Hằng số tiền 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) phần bà H góp vốn đặt cọc mua đất của bà T nhưng với điều kiện khi nào bà T trả lại tiền cho bà L thì bà L sẽ trả lại tiền cho bà H. Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng đặt cọc giữa bà L và bà T.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Phương T trình bày:

Năm 2022, bà T và bà Trương Thị L thoả thuận bà T chuyển nhượng cho bà L thửa đất rừng với tổng diện tích đất chuyển nhượng 16 hecta, giá chuyển nhượng là 2.250.000.000₫ (Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng), nhưng bà L nói mua cho công ty nên nhờ bà T ghi lại giá chuyển nhượng là 170.000.000đ/1 hecta (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và 01 hecta còn lại là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng - phần không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Việc chuyển nhượng chưa làm giấy chuyển nhượng mà chỉ làm giấy viết tay đặt cọc, tiền đặt cọc thực tế đã giao là 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) và 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng - đưa đủ đối với phần đất chưa có giấy tờ), tổng cộng là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng) nhưng bà L nhờ bà T viết tay với nội dung nhận tiền đặt cọc 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng), nhận hai lần. Việc giao tiền đặt cọc không có người làm chứng nhưng bà T ghi âm về nội dung bà L thừa nhận giao cho bà T 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng), không thoả thuận thời gian thực hiện việc chuyển nhượng. Khi làm giấy đặt cọc chỉ làm 01 tờ và bà L là người giữ, chữ viết trên giấy là chữ của bà T, riêng nội dung “trong vòng 3 tháng sẽ thực hiện xong việc chuyển nhượng” “nếu bà T không ra sổ thì bà T đền bù gấp 05 lần cho bà L” là chữ của người khác, không phải chữ viết của bà T.

Hết thời hạn 03 tháng, bà L không giao đủ tiền theo thoả thuận và việc cấp đổi sổ xảy ra trục trặc mà bà T không lường trước được, bà T nhắn qua zalo cho bà L hỏi bà L giải quyết việc chuyển nhượng thế nào, bà L trả lời không mua nữa, bà L yêu cầu trả số tiền đã đặt cọc và 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) phần tiền của bà T1, B. Bà T xác định bà T chỉ giao dịch với cá nhân bà L, không thực hiện giao dịch với bà H, bà B và bà T1. Bà T không biết việc thoả thuận hùn vốn giữa bà H, bà B và bà T1.

Nay bà T không đồng ý trả lại tiền cọc cho bà L vì theo giấy đặt cọc giữa bà T và bà L thoả thuận bà L không thực hiện đầy đủ thủ tục thì bà L mất tiền cọc.

* Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Tô Thị T1 trình bày:

Bà T1 xác định trước đây (không nhớ rõ thời gian cụ thể), bà T1 cùng với 03 người khác, gồm bà Lê Thị Thu H, Trương Thị L và Bùi Thị Kim B cùng góp vốn để mua thửa đất của bà Nguyễn Thị Phương T ở thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, diện tích đất chuyển nhượng là 16 hecta, với giá chuyển nhượng là: 170.000.000đ/1 hecta (đối với phần đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và 01 hecta còn lại là 80.000.000đ (đối với 01 hecta còn lại không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Do tin tưởng và từng làm ăn với nhau nhiều lần nên thoả thuận này chỉ thoả thuận bằng miệng, không làm giấy tờ và thống nhất mỗi người cùng góp phần bằng nhau, tổng số tiền đặt cọc là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng), mỗi người góp vốn 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) và chi phí làm giấy tờ 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Sau khi thống nhất, mỗi người đưa tiền cho bà L để đại diện thực hiện giao dịch với bà T.

Sau ngày đặt cọc từ 15 đến 20 ngày, bà Bùi Thị Kim B mua lại phần góp vốn của bà T1 nên bà T1 không liên quan đến việc mua bán thửa đất nêu trên.

* Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Bùi Thị Kim B trình bày:

Bà B xác định trước đây (không nhớ rõ thời gian cụ thể), bà B cùng với 03 người khác, gồm bà Lê Thị Thu H, Trương Thị L và Tô Thị Thanh H1 vốn mua thửa đất của bà T có diện tích 16 hecta tại thôn B, X, Sông C, Phú Yên, với giá chuyển nhượng là: 170.000.000đ/1 hecta (đối với phần đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và 01 hecta còn lại là 80.000.000đ (đối với 01 hecta còn lại không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người khác nên bà T cam đoan trong vòng 3 tháng sẽ giao sổ đỏ mới.

Tổng tiền chuyển nhượng của thửa đất theo thoả thuận là 2.800.000.000₫ (Hai tỷ tám trăm triệu đồng) và vài chục triệu chi phí làm sổ, giấy tờ (không nhớ rõ cụ thể). Tổng số tiền góp vốn để đặt cọc là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng), mỗi người góp 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).

Sau khi tìm hiểu thông tin và thống nhất giá cả chuyển nhượng, bà B, bà H, bà L và bà T1 thống nhất góp 04 phần bằng nhau để cùng đặt cọc mua thửa đất nhưng khi đặt cọc mỗi người tự giao dịch riêng với bà L. Đến nay, bà T không thực hiện thủ tục sang tên như đã thoả thuận.

Nay bà H khởi kiện bà L về việc trả lại tiền góp vốn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk đã quyết định:

Áp dụng Điều 166 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H.

Buộc bà Trương Thị L phải trả cho bà Lê Thị Thu H 320.000.000₫ (Ba trăm hai mươi triệu đồng) tiền góp vốn mua đất.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 07/10/2025, bị đơn bà Trương Thị L có đơn kháng cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xét xử theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chỉ khi nào bà T trả tiền cho bà L thì bà sẽ giao lại số tiền 320.000.000 đồng cho bà H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk và đình chỉ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trương Thị L có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H, thấy: Giữa nguyên đơn bà Lê Thị Thu H và bị đơn bà Trương Thị L thống nhất, bà H giao cho bà L số tiền 320.000.000 đồng để góp vốn đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Phương T. Việc giao, nhận tiền để góp vốn đặt cọc này không làm phát sinh quan hệ vay, mượn, thuê khoán tài sản hay nghĩa vụ hoàn trả độc lập giữa bà H và bà L; mà là quan hệ hợp đồng hợp tác, cùng góp vốn nhằm thực hiện một giao dịch dân sự với người thứ ba là bà T, với mục đích cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Trên cơ sở lời khai của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu có tại hồ sơ đủ cơ sở xác định: Khoản tiền mà bà H yêu cầu bà L hoàn trả, đã được các bên thống nhất giao cho bà L đại diện nhóm góp vốn trực tiếp giao kết và thực hiện hợp đồng đặt cọc với bà T; hậu quả pháp lý của khoản tiền này phụ thuộc vào kết quả thực hiện và xử lý hậu quả pháp lý của giao dịch mà các bên cùng hướng tới; cụ thể trong vụ án này là hợp đồng đặt cọc giữa bà L và bà T, bao gồm việc xác định hiệu lực hợp đồng, lỗi của các bên, việc xử lý tiền đặt cọc, trách nhiệm hoàn trả tiền đặt cọc, ... Tại thời điểm bà H khởi kiện, hợp đồng đặt cọc chưa được giải quyết; cũng không có căn cứ nào để xác định bà L đã nhận lại tiền cọc từ bà T nhưng không trả, nên nghĩa vụ hoàn trả tiền góp vốn của bà L đối với bà H chưa phát sinh; và rõ hơn là yêu cầu hoàn trả tiền của bà H chưa hình thành tại thời điểm khởi kiện. Do đó, yêu cầu của bà H đòi bà L hoàn trả tiền góp vốn, khi khoản tiền này đã được các đương sự thống nhất giao cho bà L đại diện đặt cọc với bà T; và bà T vẫn đang quản lý khoản tiền cọc là thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện, chưa có căn cứ xác định quyền, lợi ích hợp pháp của bà H đã bị xâm phạm trên thực tế. Vì vậy, trong trường hợp này, nguyên đơn không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì chưa phát sinh tranh chấp dân sự độc lập giữa bà H và bà L.

[3] Việc Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết vụ án trong khi nguyên đơn không có quyền khởi kiện tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, đồng thời chấp nhận yêu cầu khởi kiện và tuyên buộc bị đơn hoàn trả tiền trong khi nghĩa vụ hoàn trả chưa phát sinh là sai lầm trong việc áp dụng pháp luật. Sai lầm này xảy ra ngay từ giai đoạn thụ lý, đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm được. Nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk và đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về quyền khởi kiện lại của nguyên đơn: Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này không làm mất quyền khởi kiện của bà Lê Thị Thu H trong tương lai. Khi hợp đồng đặt cọc giữa bà Trương Thị L và bà Nguyễn Thị Phương T được giải quyết và hậu quả pháp lý của hợp đồng được xác định, hoặc khi có căn cứ xác lập nghĩa vụ hoàn trả tiền góp vốn mà bà L không thực hiện, thì bà H có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định pháp luật tại điểm c khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về án phí: Bị đơn bà Trương Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; và hoàn trả cho nguyên đơn Lê Thị Thu H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ đó,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 498/2025/TLPT-DS ngày 19/11/2025 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản

[2] Về án phí: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 217, điểm a khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Lê Thị Thu H 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000627 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 – Đắk Lắk).

Bị đơn bà Trương Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Trương Thị L số tiền 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 – Đắk Lắk, theo biên lai thu số 0002552 ngày 16/10/2025.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa PT TANDTC tại Đà Nẵng;
  • - TAND khu vực 14 - Đắk Lắk;
  • - Đương sự;
  • - Phòng THADS khu vực 14 - Đắk Lắk;
  • - P.TTNV&THA;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 32/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đồi lại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger