|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2026/DS-PT Ngày: 15 - 01 - 2026 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán:Bà Châu Minh Nguyệt
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Trung Biển – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 490/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 183/2025/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 581/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1972; CCCD: 096172011330; địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là xã K, tỉnh Cà Mau (là người khuyết tật, có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Chí T1, sinh năm: 1975; CCCD: 096075002497; địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là xã K, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Bé N, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T6 (có mặt).
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Kim T2, sinh năm: 1973; CCCD: 096173002031; địa chỉ cư trú: Ấp S, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau, nay là xã C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1982; CCCD: 096082005246; địa chỉ cư trú: K, phường A, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư, Nguyễn Văn M, Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn M, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng N3-Chi nhánh T7; địa chỉ: Khóm I, xã T, tỉnh Cà Mau (có đơn xin vắng mặt).
2. Ông Huỳnh Chí N1, sinh năm: 1970; CCCD: 096070018539; địa chỉ cư trú: Ấp S, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau, nay là xã C, tỉnh Cà Mau); chỗ ở hiện nay: Khóm Ngọc T4, xã C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông N1: Ông Huỳnh Tiến Đ, sinh năm: 1994; CCCD: 096094000380; địa chỉ cư trú: Khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt)
3. Bà Trần Thị H, sinh năm: 1980; CCCD: ...; địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Kim T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo trình bày của nguyên đơn:
Năm 2016, bà Huỳnh Thị T được cha là ông Huỳnh Văn T5 (đã chết năm 2022) tặng cho phần đất diện tích 1.213m² (đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã K, tỉnh Cà Mau), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB445076 ngày 24/5/2010 đứng tên hộ ông Huỳnh Văn T5 đã đăng ký biến động tặng cho bà T ngày 07/6/2016.
Năm 2017, bà T cho bà Nguyễn Kim T2 (chị dâu) mượn quyền sử dụng đất để bà T2 thế chấp ngân hàng vay vốn cất nhà cho bà T ở. Theo thỏa thuận trên, ngày 29/3/2017 bà T với bà T2 ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích 1.213m² với giá 30.000.000 đồng có chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã K. Bà T2 nói khi cất nhà xong bên Cái N2 sẽ cho bà T với cha là ông T5 ở nhưng khi cất nhà xong bà T2 đuổi bà T và ông T5 ra khỏi nhà về lại ấp Minh Hà A ở đến nay.
Ngày 25/8/2018, ông Huỳnh Văn T5 có tổ chức họp gia đình yêu cầu vợ chồng bà T2, ông N1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà T2, ông N1 vắng mặt. Ông T5 có đơn yêu cầu đến ấp M giải quyết. Tại Biên bản hòa giải ngày 02/9/2018 của chính quyền ấp Minh Hà A, bà T2 hứa năm 2020 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T và ông T5 nhưng đến nay không trả.
Bà T khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 29/3/2017 với bà Nguyễn Kim T2 là vô hiệu. Buộc bà T2 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà.
Theo bị đơn trình bày:
Bà Nguyễn Kim T2 nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 1.213m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp M, xã K, tỉnh Cà Mau của bà T với giá 30.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc. Hợp đồng đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã K số 39, quyển số 01-TP/CC-SCT; HĐGD ngày 29/3/2017, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T2 đã thế chấp cho Ngân hàng N3-chi nhánh huyện T7.
Biên bản hòa giải ngày 02/9/2018, bà T2 có ký tên và cam kết đến năm 2020 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T và ông T5 nhưng với điều kiện ông T5 và bà T phải trả lại số tiền 150.000.000 đồng là tiền ông T5 nhận để chuyển nhượng đất, còn số tiền ghi trên hợp đồng là ghi nhằm để nhẹ đóng thuế.
Bà T2 không đồng ý tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 29/3/2017 là vô hiệu. Trường hợp nếu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì yêu cầu buộc bà T phải trả lại số tiền 40.500.000 đồng và phải bồi thường số tiền chênh lệch giá đất. Do xác định lỗi dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu có lỗi của hai bên nên chia tỷ lệ theo kết quả thẩm định giá 766.454.000 đồng ½ = 362.977.000 đồng +40.500.000 đồng = 403.477.000 đồng.
Đối với quan hệ hôn nhân giữa bà T2 với ông N1 đã có Bản án số: 04/2022/HNGĐ ngày 14/02/2022 giải quyết ly hôn giữa bà Nguyễn Kim T2 với ông Huỳnh Chí N1; Về tài sản chung và nợ Tòa án không giải quyết.
Theo đại diện ngân hàng xác định:
Ngày 23/09/2022, Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T7 có cho bà Nguyễn Kim T2 vay số tiền 170.000.000 đồng theo hạn mức tính dụng. Việc cho vay không có bảo đảm tài sản theo Nghị định của Chính phủ. Tuy nhiên, phía ngân hàng có giữ của bà T2 bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có giấy số BB445076. Quá trình vay, bà T2 thanh toán đầy đủ, không vi phạm hợp đồng. Việc bà T yêu cầu bà T2 trả lại giấy chứng nhận số BB445076, diện tích 1.213m² không ảnh hướng đến khoản vay của bà T2. Từ đó, ngân hàng không đặt ra yêu cầu trong vụ án này và xác nhận hiện Ngân hàng đã trả lại giấy chứng nhận bản gốc cho bà T2 xong.
Theo bà Trần Thị H trình bày:
Ngày 23/7/2023, bà Nguyễn Kim T2 có chuyển nhượng cho bà phần đất có diện tích 1.213m², thuộc thửa số 160, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp M, xã K, tỉnh Cà Mau) là phần đất đang tranh chấp với giá 100.000.000 đồng, hợp đồng làm bằng giấy tay. Bà H đã đặt cọc 50.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào bà T2 hoàn thành thủ tục chuyển tên cho bà thì trả đủ. Hiện tại bà H xác định không đặt ra yêu cầu trong vụ án này. Trường hợp có tranh chấp sẽ được yêu cầu giải quyết ở vụ kiện khác.
Tại Bản án sơ thẩm số: 183/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau đã căn cứ khoản 1 Điều 124; các điều 463, 466, 468, 459, 500, 501 Bộ luật Dân sự; các điều 166, 167, 188 Luật đất đai 2013, quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị T với bà Nguyễn Kim T2 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C số 39, quyển 01 – TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do giả tạo. Buộc bà Nguyễn Kim T2 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 445076, cấp ngày 24/5/2010 cho hộ ông Huỳnh Văn T5 đã được đăng ký biến động tặng cho bà Huỳnh Thị T ngày 07/6/2016 (kèm theo bản vẽ).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/9/2025, bị đơn bà Nguyễn Kim T2 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị T với bà Nguyễn Kim T2 ngày 29/3/2017 đối với phần đất diện tích 1.231m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà T2.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bị đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị sửa án sơ thẩm, bác khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực, công nhận đất chuyển nhượng thuộc quyền sử dụng của bị đơn. Hủy án sơ thẩm nội dung buộc bà T2 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Huỳnh Chí N1 không kháng cáo. Tại phiên tòa người đại diện là ông Huỳnh Tiến Đ có ý kiến đồng ý với đề nghị của bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Trần Thị H không kháng cáo, tạiphiên tòa bà H xác định không quản lý đất tranh chấp, không đặt ra yêu cầu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với bà T2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định;
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Kim T2, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 183/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Kim T2, thấy rằng: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện bà Huỳnh Thị T được tặng cho quyền sử dụng diện tích 1.213m² đất năm 2016 (đo đạc thực tế ngày 11/11/2024, diện tích 1.462,7m²). Ngày 29/3/2017 bà T ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho bà T2 với giá ghi trên hợp đồng 30.000.000 đồng. Hợp đồng được chứng thực tại UBND xã K, đã được đăng ký biến động sang tên bà T2 ngày 19/4/2017. Bà T2 đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện tín chấp vay vốn ngân hàng. Ngày 25/8/2018 do ông Huỳnh Văn T5 tổ chức họp gia đình có biên bản thể hiện nội dung ông T5 yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã giao cho vợ chồng ông Huỳnh Chí N1, bà Nguyễn Kim T2 để vay vốn ngân hàng. Biên bản này có các thành viên gia đình và người chứng kiến tham gia, ký tên nhưng vợ chồng ông N1, bà T2 vắng mặt. Tại biên bản hòa giải ngày 02/9/2018 của chính quyền ấp M thể hiện bà Nguyễn Kim T2 có tham gia, ký tên cam kết đến năm 2020 sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Văn T5. Tại cấp sơ thẩm, bà Nguyễn Kim T2 thừa nhận nội dung biên bản hòa giải ngày 02/9/2018 và xác nhận chữ ký của mình trong biên bản nhưng cho rằng đồng ý trả lại giấy quyền sử dụng đất với điều kiện ông T5 và bà T phải trả lại bà T2 số tiền 150.000.000 đồng ông T5 nhận từ việc chuyển nhượng đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T2 trình bày việc ký tên cam kết trả lại giấy tờ đất trong biên bản hòa giải tại ấp là do bị áp lực, đe dọa từ phía ông T5 và chính quyền.
Với chứng cứ trên cho thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T với bà T2 lập ngày 29/3/2017 không phản ánh đúng ý chí thực sự của các bên về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mà là nhằm mục đích hợp thức hóa để bà T2 đứng tên giấy tờ đất sử dụng thế chấp vay vốn ngân hàng như trình bày của nguyên đơn là có cơ sở. Mặt khác, giá chuyển nhượng 30.000.000 đồng đối với diện tích đất 1.213 m² tại thời điểm năm 2017 là không phù hợp với giá trị thực tế của quyền sử dụng đất tại địa phương. Bà T2 cho rằng đã giao cho ông Huỳnh Văn T5 số tiền 150.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng đất nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền này. Trong khi đó, nội dung biên bản hòa giải và biên bản họp gia đình không thể hiện điều kiện trả lại giấy chứng nhận gắn với nghĩa vụ hoàn trả số tiền 150.000.000 đồng như trình bày của bà T2.
Bản án sơ thẩm xét xử xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 29/3/2017 giữa bà Huỳnh Thị T và bà Nguyễn Kim T2 là giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu việc mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng. Từ đó, cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Đối với yêu cầu xem xét hậu quả hợp đồng vô hiệu và bồi thường chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu này được đưa ra sau thời điểm Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác. Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không đặt ra yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, nên án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, không thuộc phạm vi xem xét của cấp phúc thẩm.
[3] Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu. Bà T2 xác định đã được nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngân hàng. Ngân hàng xác định tài sản tranh chấp không liên quan đến hợp đồng vay nên không yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T2 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T là phù hợp. Đối với diện tích đất tranh chấp bà T, bà T2, bà H đều thống nhất xác định hiện tại do bà T quản lý, sử dụng án sơ thẩm không tuyên trả lại đất là phù hợp, đúng với thực tế khách quan.
[4] Từ nhận định trên cho thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Kim T2, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bà T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Kim T2; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 183/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 124; các điều 463, 466, 468, 459, 500, 501 Bộ luật Dân sự; các điều 166, 167 và 188 Luật đất đai năm 2013;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị T với bà Nguyễn Kim T2 đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chứng thực số 39, quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do giả tạo. Buộc bà Nguyễn Kim T2 phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB445076, cấp ngày 24/5/2010 cho hộ ông Huỳnh Văn T5 đã được đăng ký biến động tặng cho bà Huỳnh Thị T vào ngày 07/6/2016 (kèm theo bản vẽ bl: 134).
Bà Huỳnh Thị T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh biến động đối với quyền sử dụng đất nêu trên.
3. Căn cứ các Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
- Về chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Thị T không phải chịu, bà T có dự nộp tổng số tiền 13.146.000 đồng và đã chi xong. Bà T2 phải chịu 13.146.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Kim T2 phải trả lại cho bà Huỳnh Thị T số tiền 13.146.000 đồng (Mười ba triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Huỳnh Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Kim T2 không thi hành xong khoản tiền trên, bà Nguyễn Kim T2 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Kim T2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà Huỳnh Thị T không phải chịu. Ngày 21/7/2023, bà T có dự nộp 600.000 đồng theo lai thu số 0007117 được nhận lại tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Kim T2 phải chịu 300.000 đồng; ngày 11/9/2025 bà T2 có dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0011735 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Nhân |
Bản án số 31/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 31/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
