Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/DS-PT

Ngày: 30-01-2026

“V/v: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố

giao dịch dân sự vô hiệu"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng

Các Thẩm phán: Ông Trương Quang Tú, Ông Hoàng Tuấn Trọng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 185/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2026/QĐ-PT ngày 05 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn

    Bà Ngô Thị L, sinh năm 1961; Địa chỉ: thôn T, xã P, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn T, xã P, tỉnh Hưng Yên (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Lương Thành Đ, Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố H (Có mặt)

  2. Bị đơn

    Ông Vũ Thành Đ1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà D, ngõ A, Doãn Thiện K, TDP A phường N, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành C, Luật sư thuộc Công ty L4, Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

    • Bà Ngô Thị N, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn B, xã G, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
    • Ông Ngô Văn L2, sinh năm 1964. (Vắng mặt).
    • Ông Ngô Văn K1, sinh năm 1970. (Vắng mặt).
    • Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn T, xã P, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt).
    • Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn Đ, xã V, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt).
    • Bà Vũ Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Đ, xã V, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt).
    • Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh T và bà Vũ Thị M: Ông Lê Tất C1, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn P, xã C, tỉnh Hưng Yên; CCCD số 033099004716. (Có mặt).
    • Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt).
  4. Người làm chứng:

    • Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1949; địa chỉ: xã P, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt).
    • Ông Hoàng Quang H, sinh năm 1978; địa chỉ: xã P, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt).
    • Bà Hà Thị B, sinh năm 1969; địa chỉ: xã V, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị L trình bày:

Cụ Ngô Minh T1 (chết năm 2015) và cụ Nguyễn Thị Á (chết năm 2019) là bố mẹ của bà. Cụ T1 và cụ Ất S được 05 người con gồm: bà Ngô Thị L, ông Ngô Văn L2, bà Ngô Thị N, ông Ngô Văn K1 và bà Ngô Thị L1. Sau khi ông L2 và ông K1 xây dựng gia đình, năm 1991 cụ T1 đã tách hộ khẩu cho hai ông; từ thời điểm này, hộ gia đình cụ T1 chỉ còn 05 nhân khẩu gồm cụ T1, cụ Á và ba người con gái là bà L, bà N, bà L1.

Năm 1993, hộ gia đình cụ T1 được Nhà nước giao 2.544m² đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn 05 nhân khẩu và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2003, thực hiện dồn điền đổi thửa, hộ gia đình cụ T1 tiếp tục được giao 2.430m² đất nông nghiệp tại các xứ đồng Mả Đàn, T2, X, Quán T3, Mả N2 và Đình G, sử dụng ổn định, không có tranh chấp.

Khi thực hiện Dự án Khu đô thị T, Nhà nước thu hồi một số thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình cụ T1. Theo chính sách của địa phương, hộ gia đình cụ T1 thuộc diện được xem xét giao đất dịch vụ.

Ngày 02/10/2009, cụ T1 và bà Ngô Thị L có ký văn bản chuyển nhượng tiêu chuẩn đất dịch vụ dự kiến cho ông Vũ Thành Đ1. Việc ký kết diễn ra khi thửa đất dịch vụ chưa được Nhà nước giao, chưa bốc thăm, chưa xác định vị trí; bà L cho rằng khi ký văn bản không nhận thức đầy đủ về quy định pháp luật, tin tưởng vào sự hướng dẫn của cán bộ địa phương. Việc chuyển nhượng không có sự tham gia, không có ý kiến và không có ủy quyền của bà Ngô Thị N và bà Ngô Thị L1. Sau khi nhận tiền, cụ T1 không chia cho các chị em.

Sau này, bà L được biết ông Vũ Thành Đ1 đã chuyển giao lại tiêu chuẩn đất dịch vụ cho ông Nguyễn Thanh T. Đến khi UBND xã thông báo bốc thăm đất dịch vụ mà hộ gia đình bà không được tham gia, bà mới biết tiêu chuẩn đất dịch vụ của hộ gia đình đã bị chuyển nhượng.

Bà L cho rằng việc chuyển nhượng tiêu chuẩn đất dịch vụ ngày 02/10/2009 vi phạm quy định pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên hộ gia đình, nên đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu văn bản chuyển nhượng ngày 02/10/2009 giữa cụ T1 với ông Đ1 và tuyên vô hiệu văn bản chuyển giao ngày 29/11/2017 giữa ông Đ1 với ông Nguyễn Thanh T.

- Ý kiến của bị đơn ông Vũ Thành Đ1

Bị đơn ông Vũ Thành Đ1 trình bày: Thực hiện Dự án Khu đô thị T, hộ gia đình cụ T1 được UBND huyện V xác nhận có tiêu chuẩn khoảng 70m² đất dịch vụ. Do gia đình cụ T1 không có nhu cầu sử dụng, ngày 02/10/2009 ông Đ1 đã thỏa thuận nhận chuyển giao tiêu chuẩn đất dịch vụ này từ cụ T1. Văn bản chuyển nhượng có chữ ký của cụ T1, điểm chỉ của cụ Á, chữ ký của bà Ngô Thị L và được UBND xã C xác nhận. Việc chuyển giao là tự nguyện, có chính quyền địa phương xác nhận.

Năm 2017, do nhu cầu kinh doanh, ông Đ1 đã lập Đơn xin chuyển giao tiêu chuẩn đất dịch vụ cho ông Nguyễn Thanh T và được UBND xã C xác nhận. Ông Đ1 cho rằng giao dịch giữa ông với cụ T1 và giữa ông với ông T là hợp pháp, không có tranh chấp trong thời gian dài; đồng thời cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Do đó, ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị L.

- Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Bà Ngô Thị L1 trình bày: Bà là con của cụ T1 và cụ Á, thuộc 05 nhân khẩu được Nhà nước giao đất nông nghiệp năm 1993. Bà không biết, không tham gia và không ủy quyền cho việc cụ T1 và bà L chuyển nhượng tiêu chuẩn đất dịch vụ cho ông Đ1 năm 2009; không được hưởng bất kỳ khoản tiền nào từ việc chuyển nhượng. Khi không được tham gia bốc thăm đất dịch vụ năm 2018, bà mới biết tiêu chuẩn đất dịch vụ của hộ gia đình đã bị chuyển nhượng. Bà không đồng ý với việc chuyển nhượng này và đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu các giao dịch để bảo vệ quyền lợi của bà.

Bà Ngô Thị N thống nhất với lời trình bày và quan điểm của bà Ngô Thị L1; xác định không biết, không tham gia, không ủy quyền và không được hưởng lợi từ việc chuyển nhượng tiêu chuẩn đất dịch vụ.

Ông Ngô Văn L2 trình bày: Ông đã tách hộ khẩu từ trước năm 1993, được Nhà nước giao đất nông nghiệp theo hộ khẩu riêng; không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tiêu chuẩn đất dịch vụ của hộ gia đình cụ T1.

Ông Ngô Văn K1 trình bày: Ông đã tách hộ khẩu, được Nhà nước giao đất theo hộ riêng. Gia đình ông được tiêu chuẩn khoảng 50m² đất dịch vụ, không liên quan đến tiêu chuẩn 70m² đất dịch vụ của hộ cụ T1 đang tranh chấp; đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Thanh T trình bày: Ngày 29/11/2017, ông nhận chuyển giao tiêu chuẩn 70m² đất dịch vụ từ ông Vũ Thành Đ1 bằng văn bản được UBND xã C xác nhận. Trước khi nhận chuyển giao, ông đã nhờ cán bộ địa chính kiểm tra và được xác nhận tiêu chuẩn đất dịch vụ của hộ cụ T1 là hợp pháp. Năm 2018, ông đã bốc thăm được thửa đất DV2A-7A-14 và đã nộp tiền xây dựng hạ tầng theo quy định. Ông cho rằng mình là người nhận chuyển giao ngay tình, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và áp dụng thời hiệu.

Bà Vũ Thị M (vợ ông T) xác định số tiền nhận chuyển giao tiêu chuẩn đất dịch vụ và tiền nộp xây dựng hạ tầng là tài sản chung của vợ chồng; thống nhất quan điểm với ông T.

- Ý kiến của Ủy ban nhân dân xã C và cơ quan chuyên môn

Đại diện UBND xã C xác nhận: Hộ gia đình cụ T1 được xác định có tiêu chuẩn khoảng 70m² đất dịch vụ; năm 2009 cụ T1 đã ký văn bản chuyển nhượng tiêu chuẩn đất dịch vụ cho ông Vũ Thành Đ1 và được Chủ tịch UBND xã xác nhận. Năm 2017, UBND xã tiếp tục xác nhận đơn chuyển giao tiêu chuẩn đất dịch vụ từ ông Đ1 cho ông Nguyễn Thanh T. Đến nay, dự án đất dịch vụ đang trong quá trình hoàn thiện hạ tầng, chưa bàn giao đất trên thực địa.

Theo Công văn số 238/CV-TCKH ngày 11/10/2024 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện V: Thửa đất DV2A-7A-14 thuộc khu đất dịch vụ 2A xã C hiện mới được UBND tỉnh H giao cho UBND xã C để xây dựng hạ tầng; UBND huyện V chưa ban hành quyết định giao đất dịch vụ cho ông Nguyễn Thanh T, chưa xác định giá đất và chưa thu tiền sử dụng đất, nên chưa đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định.

- Ý kiến của người làm chứng

Ông Nguyễn Văn N1 trình bày: Năm 2009, ông có môi giới cho cụ T1 bán suất đất dịch vụ cho ông Đ1; việc thỏa thuận diễn ra tại nhà cụ T1, có cụ T1, cụ Á và bà L; ông không biết nội dung cụ thể về giá cả, diện tích; không tham gia ký kết hợp đồng.

Ông Hoàng Quang H và bà Hà Thị B trình bày: Năm 2017, tại nhà bà B, có chứng kiến việc ông Nguyễn Thanh T giao tiền cho ông Vũ Thành Đ1 khi hai bên ký văn bản chuyển giao tiêu chuẩn 70m² đất dịch vụ; ngoài việc chứng kiến giao dịch và giao nhận tiền, không biết các nội dung khác.

Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị L; tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/10/2009 giữa cụ Ngô Minh T1, cụ Nguyễn Thị Á, bà Ngô Thị L với ông Vũ Thành Đ1 và Đơn xin chuyển giao quyền sử dụng đất ngày 29/11/2017 giữa ông Vũ Thành Đ1 với ông Nguyễn Thanh T; buộc bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị N và bà Ngô Thị L1 liên đới trả cho ông Vũ Thành Đ1 số tiền 322.000.000 đồng; buộc ông Vũ Thành Đ1 trả cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 980.000.000 đồng; buộc bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị N và bà Ngô Thị L1 liên đới trả cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 70.000.000 đồng; đồng thời giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự có đơn kháng cáo.

  • Ngày 17/9/2025, bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị N và bà Ngô Thị L1 kháng cáo phần quyết định buộc liên đới hoàn trả 322.000.000 đồng cho ông Vũ Thành Đ1; cho rằng thực tế chỉ nhận 156.000.000 đồng, nên đề nghị sửa án sơ thẩm.
  • Ngày 15/9/2025, ông Nguyễn Thanh T kháng cáo các nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình; không đồng ý việc tuyên vô hiệu giao dịch, buộc hoàn trả tiền và thực hiện thủ tục chuyển giao kết quả bốc thăm thửa đất DV2A-7A-14; cho rằng là người nhận chuyển giao ngay tình, đề nghị xem xét lại phần quyết định liên quan.
  • Cũng ngày 15/9/2025, ông Vũ Thành Đ1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; không đồng ý việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên vô hiệu các giao dịch ngày 02/10/2009 và 29/11/2017, cũng như các nghĩa vụ hoàn trả tiền; đề nghị hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH

  1. Về đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm

    Đơn kháng cáo của bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị L1, ông Vũ Thành Đ1 và ông Nguyễn Thanh T được nộp trong thời hạn luật định, có nội dung và phạm vi kháng cáo cụ thể, các đương sự đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

    Phạm vi xét xử phúc thẩm được xác định theo nội dung các đơn kháng cáo và các quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp

    Theo đơn khởi kiện và toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu Hợp đồng lập ngày 02/10/2009 giữa ông Ngô Minh T1, bà Nguyễn Thị Á, bà Ngô Thị L với ông Vũ Thành Đ1 và Đơn xin chuyển giao lập ngày 29/11/2017 giữa ông Vũ Thành Đ1 với ông Nguyễn Thanh T.

    Tại thời điểm xác lập các giao dịch nêu trên, phần đất dịch vụ mà các bên thỏa thuận mới chỉ là tiêu chuẩn, quyền chờ được giao, chưa có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chưa xác định vị trí thửa đất trên thực địa và chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, đối tượng của các giao dịch không phải là quyền sử dụng đất đã hình thành theo quy định của pháp luật đất đai, mà là quyền tài sản phát sinh trong tương lai.

    Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án cần được xác định đúng là tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền tài sản phát sinh trong tương lai; việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là chưa phản ánh đúng bản chất của đối tượng giao dịch, ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ án.

  3. Về thẩm quyền giải quyết vụ án

    Mặc dù bị đơn không cư trú tại tỉnh Hưng Yên, nhưng đối tượng tranh chấp phát sinh từ các giao dịch liên quan đến tiêu chuẩn đất dịch vụ tại xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên) thụ lý, giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng thẩm quyền.

  4. Về thời hiệu khởi kiện

    Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng vụ án là tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự, từ đó không xem xét các ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời hiệu.

    Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, trong vụ án này, nguyên đơn không yêu cầu bảo vệ quyền sử dụng đất đã hình thành, mà yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Việc có áp dụng thời hiệu hay không cần được xem xét theo các quy định của Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu, trên cơ sở tính chất của giao dịch, loại vô hiệu và thời điểm phát sinh quyền khởi kiện, chứ không thể mặc nhiên loại trừ thời hiệu chỉ vì giao dịch có liên quan đến đất đai.

    Việc Tòa án cấp sơ thẩm không phân tích đầy đủ căn cứ pháp lý về thời hiệu mà kết luận ngay việc không áp dụng thời hiệu là thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

  5. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm

    Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng, cụ thể:

    Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ, đúng quy định về việc phân công và tham gia tố tụng của người tiến hành tố tụng, thể hiện qua việc hồ sơ vụ án không thể hiện đầy đủ quyết định phân công hoặc thay đổi Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham gia tố tụng; việc tham gia phiên tòa của người tiến hành tố tụng không thống nhất với các quyết định đã ban hành, không bảo đảm tính chặt chẽ của trình tự tố tụng theo quy định tại các Điều 51 và 58 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền được biết, quyền trình bày ý kiến và quyền tranh tụng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

    Những thiếu sót nêu trên là vi phạm thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đồng thời tác động đến tính hợp pháp của quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm.

  6. Về nội dung giải quyết vụ án

    6.1. Về việc xác định thành viên hộ gia đình được giao đất

    Tòa án cấp sơ thẩm thừa nhận kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã không xác định được cụ thể 05 nhân khẩu được giao đất nông nghiệp của hộ gia đình cụ Ngô Minh T1 năm 1993, nhưng vẫn kết luận 05 nhân khẩu đó gồm cụ T1, cụ Á, bà L, bà N và bà L1, chủ yếu dựa vào việc ông Ngô Văn L2 và ông Ngô Văn K1 đã tách hộ trước thời điểm giao đất.

    Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, việc hai người con trai đã tách hộ không đủ căn cứ pháp lý để mặc nhiên xác định các thành viên còn lại là toàn bộ nhân khẩu được giao đất, trong khi hồ sơ không có tài liệu quản lý nhân khẩu hoặc hồ sơ giao đất thể hiện rõ nội dung này. Do đó, kết luận của Tòa án cấp sơ thẩm về thành viên hộ gia đình chưa bảo đảm chắc chắn về chứng cứ, nhưng lại được sử dụng làm căn cứ xác định chủ thể giao dịch và nghĩa vụ tài sản.

    6.2. Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

    Khi giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm xác định cụ Ngô Minh T1 đã nhận số tiền 322.000.000 đồng từ ông Vũ Thành Đ1 và buộc bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị N, bà Ngô Thị L1 liên đới hoàn trả toàn bộ số tiền này cho ông Đ1.

    Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện có mâu thuẫn trong lời khai của các bên về số tiền thực tế đã giao nhận, trong khi không có tài liệu, chứng cứ trực tiếp, khách quan chứng minh cụ T1 đã nhận đủ số tiền 322.000.000 đồng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ hoàn trả dựa trên một con số chưa được chứng minh đầy đủ là chưa bảo đảm nguyên tắc chứng minh và đánh giá chứng cứ theo quy định tại các Điều 91, 93 và 97 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Mặt khác, trong trường hợp xác định số tiền chuyển nhượng là do cụ Ngô Minh T1 trực tiếp nhận, thì nghĩa vụ hoàn trả (nếu có) phải được xem xét là nghĩa vụ tài sản của người đã chết, cần làm rõ phạm vi trách nhiệm trong giới hạn di sản để lại, cũng như xác định đúng chủ thể có nghĩa vụ thực hiện, thay vì buộc trực tiếp một số người con của cụ T1 liên đới hoàn trả mà chưa làm rõ căn cứ pháp lý tương ứng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng “các bên đều có lỗi như nhau” nhưng chưa phân tích, đánh giá cụ thể hành vi và mức độ lỗi của từng bên khi xác lập và thực hiện giao dịch. Đáng chú ý, bà Ngô Thị L là người trực tiếp cùng cụ Ngô Minh T1 ký kết văn bản chuyển nhượng ngày 02/10/2009, thể hiện sự tham gia và ý chí của bà tại thời điểm giao dịch được xác lập; tuy nhiên, sau đó chính bà L lại khởi kiện yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu. Yếu tố này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá đầy đủ dưới góc độ nghĩa vụ thiện chí, trung thực trong giao dịch dân sự, để làm căn cứ xác định đúng mức độ lỗi của từng chủ thể khi giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.

    Những thiếu sót nêu trên cho thấy việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu tại cấp sơ thẩm chưa toàn diện, chưa đúng chủ thể và chưa bảo đảm căn cứ pháp luật, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

    6.3. Đối với giao dịch năm 2017 và các khoản tiền liên quan

    Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị N và bà Ngô Thị L1 hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 70.000.000 đồng đã nộp xây dựng hạ tầng, trong khi giữa các bên này không phát sinh giao dịch dân sự trực tiếp và không có căn cứ xác định các bà đã nhận hoặc chiếm giữ khoản tiền nêu trên. Việc buộc hoàn trả trong trường hợp này là chưa xác định được căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự, không phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự.

    Ngoài ra, mặc dù nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố các giao dịch vô hiệu, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên buộc các đương sự phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển giao kết quả bốc thăm thửa đất dịch vụ. Nội dung này vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, đồng thời liên quan đến trình tự, thủ tục quản lý hành chính về đất đai, là không phù hợp với các Điều 5 và 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  7. Về căn cứ hủy bản án sơ thẩm

    Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng bản án sơ thẩm có sai sót nghiêm trọng trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, áp dụng thời hiệu, áp dụng pháp luật nội dung và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Các sai sót này gắn liền với cách thức giải quyết vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm.

    Do đó, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung, bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đúng quy định của pháp luật, theo quy định tại khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  8. Về án phí và chi phí tố tụng

    Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng trong vụ án sẽ được xem xét, quyết định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Vũ Thành Đ1.
  2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
  3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
  4. Về tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm được Tòa án xem xét khi giải quyết lại vụ án.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho các đương sự số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, cụ thể: Bà Ngô Thị L1, tại Biên lai số 0002409; bà Ngô Thị N, tại Biên lai số 0002408 cùng ngày 21/10/2025; ông Nguyễn Thanh T, tại Biên lai số 0002391; ông Vũ Thành Đ1, tại Biên lai số 0002389 ngày 20/10/2025.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • VKSND khu vực 4-Hưng Yên;
  • TAND khu vực 4-Hưng Yên;
  • Đương sự;
  • THADS tỉnh Hưng Yên;
  • Lưu HS vụ án, VpTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

  • Số bản án: 30/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger