TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2026/HSST ngày 13/01/2026 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng
Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Bá Ngọc, Bà Nguyễn Thị Phương
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Bá Minh Huy - Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 6.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 tham gia phiên toà: Bà Bùi Mai Quỳnh- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Toà án nhân dân khu vực 6 xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 265/2025/TLST-HS ngày 10/12/2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1986; Giới tính: Nam. Nơi ĐKTT: Bản N, xã N, tỉnh Điện Biên. Nơi ở: số B D, phường V, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lò Văn H và bà Lò Thị N (đã chết). Vợ Quàng Thị N1; Có 02 con, lớn sinh năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án Bản án sơ thẩm số 95/2022/HS-ST ngày 16/8/2022, TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 16/9/2023 (chưa xóa án tích). Nhân thân: Bản án sơ thẩm số 115/2017/HSST ngày 20/4/2017, TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/11/2018; Bản án sơ thẩm số 152/2019/HSST ngày 29/11/2019, TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 15/8/2021. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Lê Xuân Đ, sinh năm 1969. Trú tại: Tổ D, phường V, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi ở cố định. Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 08 giờ 00 phút ngày 02/9/2025, Lò Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, biển kiểm soát (BKS): 20H7-8129 từ phòng trọ đến khu vực cổng bến xe Y thuộc phường Y, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy. Tại đây, T hỏi được một nam giới lái xe ôm (không quen biết) cho số điện thoại của người bán ma túy, số 0583512504. Sau đó, T sử dụng điện thoại của T lắp sim số 0797338361 gọi vào số 0583512504 hỏi mua 300.000 đồng ma túy và được hẹn đến đầu ngõ S đường Q, phường K, thành phố Hà Nội giao dịch. Sau khi trao đổi qua điện thoại, T một mình điều khiển xe máy đi vào bên trong khu vực ngõ S Q, phường K, Hà Nội gặp và mua của một người nam giới 01 gói giấy bạc bọc nilon màu xanh bên trong là ma túy Heroin với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm số ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Khi T đi cách khu vực đầu ngách B, ngõ G Q, phường K, Hà Nội khoảng 300m (mét) thì bị tổ công tác công an phường K, Hà Nội phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “SaiGon Melon”, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, bên ngoài giấy bạc bọc nilon màu xanh (là gói ma túy Thưởng vừa mua được). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa T về trụ sở để điều tra làm rõ.
Vật chứng vụ án:
- Thu giữ của Lò Văn T:
- + 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “SaiGon Melon”, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, kích thước (01x1,5) cm, bên ngoài giấy bạc bọc nilon màu xanh (ký hiệu M1).
- + 01 xe máy nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, BKS: 2047 – 8129; số máy VMEM3G005903, số khung RLGMA11AD4D005903, đã qua sử dụng.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu trắng, lắp sim số 0797338361, đã qua sử dụng.
- + Thu giữ mẫu nước tiểu của Lò Văn T ngày 02/9/2025 đựng trong chai nhựa 500ml có nắp (ký hiệu M2);
- Thu giữ của anh Lê Xuân Đ, sinh năm: 1969, trú tại: tổ D, phường V, thành phố Hà Nội (tự nguyện giao nộp): 01 giấy đăng ký xe máy số 0091008 nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, BKS: 2047 – 8129.
Tại bản Kết luận giám định số 5782/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K1 Công an thành phố H giám định đối với vật chứng thu giữ được, kết luận:
“- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc bọc ngoài bằng nilông màu xanh chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1) là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,239 gam.
Trong mẫu nước tiểu của Lò Văn T thu ngày 02/9/2025 (ký hiệu M2) có tìm thấy ma túy loại Codeine, ma túy loại Morphine và có 6-MAM (6-MAM là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroin trong cơ thể người).”
Tại bản Cáo trạng số 179/CT – VKS ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, truy tố Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện việc cất giữ ma tuý như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung; tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý đã thu giữ. Tịch thu sung công 01 điện thoại, trả lại anh Lê Xuân Đ 01 xe mô tô BKS: 20H7-8129. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Về nội dung:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2.1. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà, thấy phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu được, lời khai của người làm chứng phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 02/9/2025, tại khu vực đầu ngách B, ngõ G đường Q, phường K, thành phố Hà Nội, Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại Heroin, khối lượng 0,239 gam thì bị tổ công tác Công an phường K, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,239 gam ma túy loại heroin để sử dụng cho bản thân như nêu trên của Lò Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, nhân cách con người, dư luận xã hội bất bình lên án. Trước tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng gia tăng, Nhà nước ta đã ban hành các chính sách nhằm phổ biến, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về tác hại của ma tuý, đồng thời có biện pháp xử lý rất kiên quyết. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân có nhiều tiền án tiền sự đều về tội ma túy, mới bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự . Với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có hình phạt tù cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì bên trong có 0,239 gam ma túy loại heroin.
Tịch thu sung công : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu trắng, lắp sim số 0797338361, đã qua sử dụng.
Trả lại anh Lê Xuân Đ: 01 xe máy nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, BKS: 20H7 – 8129; số máy VMEM3G005903, số khung RLGMA11AD4D005903, đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe máy số 0091008 nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, BKS: 20H7 – 8129.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì của Công an thành phố H niêm phong, trên các mép dán có các chữ ký của giám định viên Lê Khắc N2, cán bộ công an Đỗ Mạnh C và bị cáo Lò Văn T, bên trong có 0,239 gam ma túy loại Heroin.
- + Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu trắng, IMEI 358603071384514, bên trong lắp sim, đã qua sử dụng. Thu giữ của Lò Văn T
- + Trả lại anh Lê Xuân Đ: 01 xe máy nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, BKS: 20H7 – 8129; số máy VMEM3G005903, số khung RLGMA11AD4D005903, đã qua sử dụng.
- + Trả lại anh Lê Xuân Đ: 01 giấy đăng ký xe máy số 0091008 nhãn hiệu MOTOSTAR, màu đỏ, BKS: 20H7 – 8129 đăng ký tên Nguyễn Văn K. (Tang vật đang lưu trong hồ sơ vụ án)
- Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lò Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Xử phạt: Lò Văn T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/9/2025.
Tang vật hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2025
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Dũng |
Bản án số 29/2026/HSST ngày 13/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 29/2026/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
