Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 16-01-2026

V/v ly hôn Tho – Giang

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thuý Phượng

Bà Trần Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực

12, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2025/TLST - HNGĐ ngày 24/10/2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: ấp H, xã P, tỉnh An Giang.

CCCD số 089188021250 ngày cấp 13/02/2022

Bị đơn: Ông Đặng Hậu G, sinh năm 1987.

Trú tại: ấp H, xã P, tỉnh An Giang.

Số định danh cá nhân/CMND số 089087008822.

(bà T có mặt, ông G vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/09/2025 nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày: Thông qua mai mối bà T và ông G được sự đồng ý của gia đình hai bên nên tổ chức lễ cưới năm 2007 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38, quyển số 01/2008, ngày 17 tháng 04 năm 2008(nay là

Ủy ban nhân dân xã P). Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, không tìm được tiếng nói chung, ông G đi làm xa nhưng bà T không biết đi đâu và làm gì, bà T bỏ về nhà cha mẹ sống từ năm 2020 đến nay, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân không ai qua lại điện thoại hỏi thăm hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, năm 2022 bà T đã nộp đơn ly hôn hết một lần nhưng Toà án động viên để vợ chồng hàn gắn tình cảm sống vì con nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không hàn gắn được, nay yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Hậu G.

Con chung: ông G, bà T có 03 con chung tên Đặng Trần Anh T1, sinh ngày 17/05/2017, Đặng Thị Lan A, sinh ngày 21/11/2012 và Đặng Thị Bích N, sinh ngày 12/9/2008, ba con chung đang sống chung với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông G cấp dưỡng cho con

Về tài sản chung: Tự thoả thuận;

Nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Đặng Hậu G vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Tài liệu do Toà án thu thập được: Đại diện ban Ấ, xã P cho biết ông Đặng Hậu G sinh năm 1987 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã P, tỉnh An Giang, tuy nhiên hiện nay ông G không có mặt tại địa phương đi làm xa, tỉnh thoảng mới về, về tình trạng giữa bà T và ông G như thế nào thì địa phương không rõ.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa. Nguyên đơn bà T đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Đặng Hậu G đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông G vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông G là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị T đối với ông Đặng Hậu G. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông G cấp dưỡng cho con, ông G vắng mặt không ý kiến về con chung nên không xem xét giải quyết

- Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà T yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông G nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 12 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn ông G được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1 Về hôn nhân: bà T và ông G tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2007 và có đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã P(nay là xã P) ngày 17/04/2008 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông G, bà T chung sống vợ chồng nhưng thường xuyên cải nhau, tính tình vợ chồng không còn phù hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, khi xảy ra cự cải không tìm cách hoà giải mà lại bỏ nhà đi từ 2020 đến nay, năm 2022 bà T đã nộp đơn ly hôn hết một lần sau đó rút đơn để vợ chồng hàn gắn tình cảm sống vì con nhưng tình cảm vẫn không hàn gắn được, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân không ai qua lại, điện thoại hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay bà T xin ly hôn với ông G.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau………”. Thế nhưng vợ chồng ông G, bà T không còn chung sống khoảng hơn 03 năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Trần Thị T được ly hôn ông Đặng Hậu G.

[2.2] Về con chung: có 03 con chung tên Đặng Trần Anh T1, sinh ngày 17/05/2017, Đặng Thị Lan A, sinh ngày 21/11/2012 và Đặng Thị Bích N, sinh ngày 12/9/2008, cả ba con chung đang sống chung với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi các con chung, không yêu cầu ông G cấp dưỡng cho con, tại bản tự

khai ngày 02/12/2025 cả ba con chung đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung bà T. Ông G vắng mặt không ý kiến về con chung, vì thế HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.3] bà T trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T.

Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị T được ly hôn ông Đặng Hậu G.

Về con chung: Giao con chung Đặng Trần Anh T1, sinh ngày 17/05/2017, Đặng Thị Lan A, sinh ngày 21/11/2012 và Đặng Thị Bích N, sinh ngày 12/9/2008 cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng. Con chung đang sống chung bà T, ông G không phải cấp dưỡng cho con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.

Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005996 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Trần Thị T không phải nộp thêm án phí.

Ông Đặng Hậu G không phải chịu án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông G, vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS nhân dân Khu Vực 12;
  • - UBND xã Phú Hưng (nay là xã Phú Tân);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Ngọc Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2026/HNGĐ-ST ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 28/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger