Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2026/HS-PT

Ngày: 15-01-2026

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Ông Nguyễn Văn Nhân

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Khánh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 tháng 01 năm 2026 và ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 568/2025/TLPT - HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thành T.

Do có kháng cáo của bị hại Hồ Xuân T1 và bị hại Hồ Anh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai.

1. Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành T, sinh năm: 1985; tại: Nghệ An; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên trạm y tế; họ và tên cha: Nguyễn Văn T2 năm sinh 1960, đã chết năm 2019; họ và tên mẹ: Cao Thị B, sinh năm: 1960; bị cáo có vợ tên: Lương Thị N, sinh năm 1988, bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ năm 2017; Bị cáo có 03 chị em lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990;

Tiền án, Tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại cho đến nay - có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Thị Thu O, sinh năm 1992, địa chỉ: E đường Đ, phường T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị hại:

ông Hồ Xuân T1, sinh năm 1963 (vắng mặt); ông Hồ Anh H, sinh năm 1994 (vắng mặt); cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai;

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H: bà Hồ Thị H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai; (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại: Luật sư Hồ Nguyên H2, sinh năm 1996, địa chỉ: B N, phường B, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai; (có mặt)

- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)

- Bà Lương Thị N, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ) nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai; (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành T và Hồ Xuân T1 cùng ngụ tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai là hàng xóm. Ngày 18/01/2025, Nguyễn Thành T thuê thợ xây hàng rào của nhà T, khi xây T cho thợ xây đặt 05 lỗ để thoát nước từ trong vườn và sân nhà ra ngoài đường. Thấy việc đặt lỗ thoát nước của gia đình Trung không đúng, nên Hồ Thị H1 (con gái ông T1) đến gặp anh Nguyễn Văn G (thợ xây) trao đổi việc xây tường rào rồi đi về.

Sau đó, anh G gọi điện thoại báo cho T biết sự việc và nói T về nhà giải quyết. Sau đó, H1 tiếp tục đi đến chỗ công trình đang xây thì gặp Lương Thị N (vợ của T). Lúc này, giữa H1 và N cãi nhau. Thấy vậy, gia đình ông T1 gồm ông T1, bà Nguyễn Thị Q (vợ ông T1), Hồ Anh H (con trai ông T1) đến gặp N nói chuyện; sau đó, T đi về thì H1 và bà Q, anh H yêu cầu T đặt lại các ống thoát nước nhưng T cho rằng tường rào được xây trong đất của nhà T, việc đặt các ống để thoát nước mưa; không phải nước thải sinh hoạt hàng ngày nên không ảnh hưởng đến môi trường và việc tham gia giao thông của mọi người.

Nghe vậy, hai bên tiếp tục cãi nhau thì H1, T1, H, Q đứng ngoài cổng, còn vợ chồng T đứng trong sân. Lúc này, trên tay T cầm một đoạn cây sắt hình trụ tròn, rỗng bên trong, dài 99cm, một đầu tròn đường kính 2.5cm, chu vi 07cm, một đầu dẹp rộng 3.2cm, bề mặt bám dính nhiều chất xi măng.

Khi nghe H1, T1, H to tiếng và thách thức thì T dùng cây sắt đánh vào đầu H1. Thấy vậy, H xông vào dùng tay đánh N. Thấy N bị đánh nên T dùng cây sắt đánh H một cái trúng đỉnh đầu bên phải, bị đánh H dùng tay ôm đầu và nằm xuống đất.

Lúc này, T1 đứng phía sau H, trên tay cầm một viên gạch (loại gạch thẻ 02 lỗ), chạy tới ném về hướng T thì T dơ cây lên đánh trúng vào tay phải T1, còn T1 chọi trúng vai trái của T. Sau đó, T1 lùi về sau tiếp tục dùng gạch ném vào người T thì Trung tránh được. Lúc đó, ông T1 lấy cây để tại hiện trường để đánh T nhưng không đánh được. Sau đó T1, H, H1 được đưa đi cấp cứu.

Căn cứ kết luận giám định số 53/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Đồng Nai) xác định tại thời điểm giám định thương tích của Hồ Thị H1 có tỷ lệ là 00%.

Căn cứ kết luận giám định số 54/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Đồng Nai) kết luận ông Hồ Xuân T1 có thương tích như sau: Sẹo mổ cẳng tay phải ½ dưới – trước -ngoài kích thước (11x 0,2) gọn: 02% (H1); kết quả cận lâm sàn gãy 1/3 dưới xương quay phải, còn dụng cụ kết hợp xương: 08% (H2). Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng tác động trực tiếp gây ra. Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể thì Hồ Xuân T1 tại thời điểm hiện tại là 10% áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

Căn cứ kết luận giám định số 55/KLTTCT-TTPY ngày 21/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Đồng Nai) kết luận thương tích của Hồ Anh H như sau: Sẹo dọc đỉnh đầu bên phải kích thước (6 x 0,2) cm, rúm nhẹ. Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng (có thể có cạnh) tác động theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02% sức khỏe.

Căn cứ kết luận giám định số 233 ngày 08/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh Đ) xác định 03 đoạn video Nguyễn Thành T giao nộp cho Cơ quan điều tra ngày 21/01/2025 không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung, có xuất hình ảnh phục vụ điều tra.

Căn cứ kết luận giám định số 600 ngày 30/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh Đ) xuất được một số nội dung âm thanh trong 03 đoạn video Nguyễn Thành T giao nộp cho Cơ quan CSĐT ngày 21/01/2025 có những từ ngữ cãi nhau qua lại của gia đình Nguyễn Thành T và Hồ Xuân T1.

Căn cứ kết luận giám định vật gây thương tích số 216 ngày 22/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Đồng Nai) kết luận: căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến có phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định đoạn kim loại (mẫu vật giám định) tác động vào cơ thể có thể gây ra thương tích “Gãy 1/3 dưới xương quay phải” của Hồ Xuân T1.

Căn cứ kết luận giám định vật gây thương tích số 217 ngày 22/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Đồng Nai) kết luận: mẫu vật là vật tày cứng đường kính từ 2,5cm đến 03cm. Không đủ cơ sở để kết luận Hồ Thị H1 có bị ngoại lực tác động vào vùng đầu hay không vì vậy không thể xác định đoạn kim loại có tác động vào vùng đầu của Hồ Thị H1 hay không.

Căn cứ kết luận giám định vật gây thương tích số 218 ngày 22/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là tỉnh Đồng Nai) kết luận: căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến có phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định đoạn kim loại (mẫu vật giám định) tác động vào cơ thể có thể gây ra thương tích “Sẹo dọc đỉnh đầu bên phải” của Hồ Anh H.

Kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Xuân T1, và Hồ Anh H lần lượt tại thời điểm giám định là: 10% và 2%

Cáo trạng số 09/CT-VKSKV13 ngày 09/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Đồng Nai giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa, sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như trong nội dung bản cáo trạng và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo và đề xuất thời gian thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm dân sự:

Hồ Xuân T1 yêu cầu bồi thường số tiền 95.769.298 đồng chi phí chữa trị, bồi dưỡng sức khỏe, thu nhập bị mất, tiền công người chăm sóc (chi phí chữa trị có hóa đơn của bệnh viện 22.153.298 đồng, có biên nhận của quầy thuốc tư nhân 1.840.000 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe, đi lại không có hóa đơn 29.900.000 đồng; chi phí tiền công và đi lại cho người chăm sóc không có hóa đơn 3.900.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của ông T1: 37.976.000 đồng) và chi phí bồi thường tổn thất tinh thần 60.000.000 đồng.

Hồ Anh H yêu cầu bồi thường số tiền 40.220.660 đồng (chi phí chữa trị có hóa đơn của bệnh viện 3.640.266 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe, đi lại không có hóa đơn 14.500.000 đồng; chi phí tiền công người chăm sóc không có hóa đơn 2.400.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất 19.530.000 đồng) và chi phí bồi thường tổn thất tinh thần 60.000.000 đồng.

Hồ Thị H1 yêu cầu bồi thường số tiền 6.079.542 đồng (chi phí chữa trị có hóa đơn của bệnh viện 479.542 đồng; chi phí bồi dưỡng sức khỏe không có hóa đơn 500.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất 300.000 đồng; tiền công người chăm sóc 4.800.000 đồng) và chi phí bồi thường tổn thất tinh thần 60.000.000 đồng.

Nguyễn Thành T đã tự nguyện nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai theo biên lai thu số 0006829 ngày 19/9/2025 để bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hồ Thị H1 xin rút các chi phí bồi thường về sức khoẻ, tiền công chăm sóc, tiền bồi dưỡng tinh thần chỉ yêu cầu tiền tổn thất có hoá đơn 6.079.542 đồng

Đề nghị tăng mức bồi thường tối đa về tinh thần cho ông Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H mỗi người 117.000.000 đồng và giữ nguyên các mức bồi thường khác như ban đầu.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo đề xuất như bản Cáo trạng.

Người bào chữa cho bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử trả điều tra bổ sung vì cho rằng bị cáo cố ý gây thương tích cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của bị cáo theo Điều 135 Bộ Luật hình sự 2015. Do đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung nên không có các ý kiến về bồi thường thiệt hại.

Bị cáo cho rằng phía gia đình bị hại có hành vi tấn công vợ của bị cáo, bị cáo chỉ tự vệ, đối với cáo trạng cho rằng bị cáo đánh ông T1 là không đúng vì từ đầu tới cuối bị cáo không hề dùng vật gì tác động vào ông T1. Về bồi thường bị cáo chỉ đồng ý bồi thường các chi phí hợp lý có chứng từ đối với anh H vì bị cáo chỉ gây thương tích cho anh H

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: các mâu thuẫn mà người bào chữa cho bị cáo đưa ra từ năm 2015, 2017 đều đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho đến khi gia đình bị hại yêu cầu gia đình bị cáo làm đường thoát nước thì mới có mâu thuẫn dẫn đến xô xát, bị cáo đã dùng cây chéo bằng sắt trong xây dựng để đánh vào đầu anh H vào tay ông T1 gây thương tích mang tính côn đồ. Sau khi bị cáo gây ra bị cáo không có động thái giải quyết hậu quả xin lỗi gia đình bị hại gây ra tổn thương tâm lý nghiêm trọng cho ông T1 và cho anh H và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường cho gia đình bị hại theo bảng kê đã nộp và thay đổi tăng mức bồi thường từ 60.000.000đồng tổn thất tinh thần cho ông T1 và anh H mỗi người là 117.000.000 đồng.

Bị cáo đồng ý với bào chữa của vị Luật sư cho mình và thống nhất trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với tội danh của bị cáo theo Điều 135 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai đã tuyên xử:

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 29/9/2025). Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
  2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Thành T có trách nhiệm bồi thường cho ông Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H tổng số tiền 49.463.500đồng

Tiếp tục quản thủ số tiền 50.000.0000đ do Nguyễn Thành T nộp để thi hành án, số tiền còn lại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai trả lại cho bị cáo. (Theo biên lai thu tiền của Chi cục THADS nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai số 0006829 ngày 19/9/2025).

Ông Hồ Xuân T1, anh Hồ Anh H, và bà Hồ Thị H1 được quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục chung đối với khoản yêu cầu chưa được chấp nhận nằm ngoài số tiền trên nếu có yêu cầu.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng vụ án; án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/10/2025, bị hại Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H kháng cáo đối với mức hình phạt và số tiền bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo xin lỗi bị hại và được bị hại chấp nhận, bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về số tiền bồi thường thiệt hại: bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, bị hại đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố, truy tố, xét xử đối với bị cáo đề ngày 15 tháng 01 năm 2026.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại, theo đó bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, bị hại đồng ý rút yêu cầu khởi tố, rút yêu cầu kháng cáo. Việc bị cáo và bị hại thỏa thuận tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, nên được ghi nhận. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bản án sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai và đình chỉ vụ án hình sự.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: thống nhất với quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị hại Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo xin lỗi bị hại và được bị hại chấp nhận, bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về số tiền bồi thường thiệt hại: bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng (bị hại đã nhận đủ), bị hại đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu kháng cáo. Việc bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, rút yêu cầu kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc.

Bị cáo Nguyễn Thành T có hành vi cố ý gây thương tích cho người bị hại Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H với tỷ lệ tổn thương cơ thể lần lượt là 10% và 2%, thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Nay bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận đề nghị của bị hại, hủy Bản án sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai và đình chỉ vụ án.

Đối với số tiền 50.000.0000đ do Nguyễn Thành T nộp tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai (Theo biên lai thu tiền của Chi cục THADS nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai số 0006829 ngày 19/9/2025) trả lại cho Nguyễn Thành T.

[3] Việc hủy Bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm mà do bị hại Hồ Xuân T1 và Hồ Anh H đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không thuộc trường hợp được giải quyết bồi thường oan sai.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị hủy Bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Đồng Nai và đình chỉ vụ án.

Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai trả lại cho ông Nguyễn Thành T số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) đã nộp để thi hành án theo biên lai thu tiền của Chi cục THADS nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Đồng Nai số 0006829 ngày 19/9/2025.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - PV 06 Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND, VKSND KV13 - Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai (P. THADS KV13);
  • - CQĐT Công an KV13- Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: Tổ HCTP, THS, HSVA (20b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2026/HS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 25/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger