Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 24/2026/DS-PT

Ngày 13 - 01 - 2026

V/v “Tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Ông Trần Ngọc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 241/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3702/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Sơn Kim P, sinh năm 1965 (có mặt);

    Địa chỉ: Số I, tỉnh lộ 932, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Số I, tỉnh lộ 932, ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T (vắng mặt);

    Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lý Bình Đ, sinh năm 1977 (vắng mặt);

    Địa chỉ: Số C, đường N, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Số C, đường N, phường P, thành phố Cần Thơ).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

      Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thành phố Cần Thơ (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Đường T, ấp C, xã M, thành phố Cần Thơ).

    2. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

      Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);

      Người đại diện theo ủy quyền: Bà Cao Thùy Thiên P1 – Trưởng phòng Kinh tế xã P (có đơn yêu cầu vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ).

    3. Bà Lâm Thị P2, sinh năm 1940 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Số E, đường P, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Số E, đường P, khóm B, phường P, thành phố Cần Thơ).

    4. Bà Huỳnh Thị Sa M, sinh năm 1948 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    5. Bà Lâm Sung T1, sinh năm 1969 (có mặt);

      Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Số A, ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    6. Bà Lâm Sung H, sinh năm 1975 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Nay là: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    7. Ông Lâm Sung S, sinh năm 1970 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    8. Bà Lâm Sung Cha Ry D, sinh năm 1985 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Nay là: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    9. Ông Lâm Đ1, sinh năm 1994 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    10. Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1998 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Nay là: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ).

    11. Ông Huỳnh Văn V1, sinh năm 1989 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

    12. Bà Danh Thị H2, sinh năm 1992 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

    13. Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1974 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ).

    14. Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1976 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp G, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp G, xã A, thành phố Cần Thơ).

    15. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1979 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

    16. Ông Huỳnh Văn Đ2, sinh năm 1981 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

    17. Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1984 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

    18. Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1990 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành Phố Cần Thơ).

    19. Bà Huỳnh Thị M1, sinh năm 1991 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

    20. Bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1993 (vắng mặt);

      Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Nay là: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ).

  • - Người kháng cáo: nguyên đơn ông Sơn Kim P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa như sau:

Ông Sơn Kim P có thửa đất 1300m², thuộc thửa 1111, tờ bản đồ số 05, loại đất CLN, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, nguồn gốc thửa đất có được là do cậu ông là Lâm S2 đã chết năm 2013 đổi đất với mẹ của ông là Lâm Thị P2 vào năm 2000, sau đó mẹ ông đã cho ông phần đất này nên vào ngày 28/10/2000 ông S2 đã trực tiếp bàn giao cho ông 1300m², việc bàn giao có làm văn bản và những người kế cận đều biết nhưng ông chưa đi đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2020, ông đi đăng ký quyền sử dụng đất thì phát hiện Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Huỳnh Văn T với diện tích 341,3m² và ông T cho rằng năm 2005 ông S2 đã chuyển nhượng cho ông T và ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005. Nay ông Sơn Kim P yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Huỳnh Văn T thửa đất số 1111, tờ bản đồ số 5, diện tích 341,4m² vào ngày 13 tháng 10 năm 2016.

  • Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn Kim P với diện tích 341,4m², thuộc một phần thửa đất số 1111, tờ bản đồ số 05 đất tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn T.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn xin thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện và rút lại một phần yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Đối với phần đất ông Huỳnh Văn T đã bán cho bà Thạch Thị Hồng O có diện tích 98.6m², trong thửa 1111 hiện bà O đã xây dựng nhà nên ông xin rút lại yêu cầu đối với phần đất này.

  • Đối với phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 1111, có diện tích thực tế là 228.7m², ông xin thay đổi yêu cầu là chỉ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 228.7m².

  • Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn T ông vẫn giữ nguyên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày như sau:

Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là vào ngày 18/3/2003, ông T có nhận chuyển nhượng phần đất của ông Lâm S2 được sự chấp thuận của bà Lâm Thị P2 là chị ruột ông S2 với diện tích là hết thửa đất, khi mua là đất hoang chưa được khai phá, đến đầu năm 2009, ông cho con là Huỳnh Văn Q khai hoang đắp nền, cải tạo sử dụng và ở, đến tháng 10/2016 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với một phần diện tích 341,4m². Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn ông Sơn Kim P.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Đ1 trình bày như sau:

Ông là cháu rễ kêu ông T bằng ông nội, ông và vợ là Huỳnh Thị H1 đã ly hôn với nhau từ năm 2022, nhưng hiện nay ông vẫn còn ở tại căn nhà trên phần đất đang tranh chấp do ông làm bảo vệ tại Ủy ban nhân dân huyện C nên được mái ấm công đoàn hỗ trợ 40.000.000 đồng để xây dựng nhà, bản thân vợ chồng ông ra thêm 60.000.000 đồng để xây dựng nhà, sau đó đến khoảng năm 2022 vợ chồng ông ra thêm 40.000.000 đồng để sửa chữa nhà là ông Phương T3 gia đình ông luôn. Phần đất này là ông T cho vợ chồng ông nhưng do diện tích không đủ để tách thửa đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận khởi kiện của ông P vì phần đất này ba vợ ông là Huỳnh Văn Q đã xây dựng lò rèn vào khoảng năm 2009 đến năm 2019 mới cho vợ chồng ông để cất nhà.

Trong quá trình giải quyết người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Sung T1 trình bày:

Bà là con ruột của ông Lâm S2, bà có biết việc cha bà là Lâm S2 bán đất cho ông Huỳnh Văn T từ rất lâu, nhưng cụ thể bán như thế nào thì bà không biết.

Tại Văn bản số 29/UBND-VP ngày 07/01/2025 của Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến như sau:

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất có diện tích 341,4m² thuộc thửa đất số 1111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE065105 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/10/2016 cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3 là cấp lần đầu, đúng với đối tượng, đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm đăng ký có đo đạc thực tế, được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận ngày 29/8/2016. Ủy ban nhân dân huyện C không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đã cấp cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý bổ sung người tham gia tố tụng, thông báo về việc chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và yêu cầu những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có văn bản trả lời cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ) đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sơn Kim P về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 228.7m² thuộc thửa 1111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho ông và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 065105 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3 vào ngày 13/10/2016 tại thửa 1111, tờ bản đồ số 05, diện tích 341,4m². Phần đất có số đo và tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp phần đất thửa 342 (ký hiệu B2) có số đo 17m.
    • - Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 1111 (ký hiệu là A) có số đo 5.53m + 11.43m.
    • - Hướng Nam giáp phần đất thửa 342 (ký hiệu B1) có số đo 5.11m + 9.42m.
    • - Hướng Bắc giáp vỉa hè đường trục chính có số đo 14m.
    • (kèm theo sơ đồ)
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần đất có diện tích 98.6m² thuộc thửa 1111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có số đo và tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 1111 (ký hiệu B) có số đo 5.53m + 11.43m + 0.89m.
    • - Hướng Tây giáp phần đất phần đất còn lại của thửa 1174 có số đo 5.58m + 10.67m.
    • - Hướng Nam giáp phần đất thửa 342 có số đo 6m.
    • - Hướng Bắc giáp vỉa hè đường trục chính có số đo 6m.
    • (kèm theo sơ đồ)

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm, quyền thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 09/07/2025, nguyên đơn ông Sơn Kim P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Sơn Kim P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố hồ Chí minh phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng dân sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các đương sự; kết quả tranh tụng và phát biểu của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Sơn Kim P trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Huỳnh Văn T, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Lý Bình Đ đã được triệu tập nhưng vắng mặt; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, thành phố Cần Thơ và người đại diện Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Cần Thơ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử đã hỏi và nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt các đương sự nói trên, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người có tên nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Sơn Kim P:

[2.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp: các đương sự đều xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông Lâm S2 là cậu ruột của nguyên đơn chuyển nhượng cho bị đơn sử dụng từ năm 2003 cho đến nay và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bị đơn vào năm 2016. Đây là những tình tiết sự kiện, rõ ràng và các đương sự đều thừa nhận nên không cần phải chứng minh phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

Phần đất tranh chấp nằm trong thửa 1111, tờ bản đồ số 05 có diện tích có diện tích 228.7m² theo sơ đồ trích đo thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp có số đo và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần đất thửa 342 (ký hiệu B2) có số đo 17m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 1111 (ký hiệu là A) có số đo 5.53m + 11.43m.
  • - Hướng Nam giáp phần đất thửa 342 (ký hiệu B1) có số đo 5.11m + 9.42m.
  • - Hướng Bắc giáp vỉa hè đường trục chính có số đo 14m.

Về quá trình sử dụng đất tranh chấp: ông P thừa nhận sau khi nhận chuyển nhượng của ông Lâm S2 vào năm 2003, gia đình bị đơn ông T sử dụng phần đất đang tranh chấp cho đến nay, trên phần đất có 02 căn nhà của vợ chồng ông Lâm Đ1, Huỳnh Thu H3 và căn nhà của con ông T là Huỳnh Văn V1. Các đương sự đều thống nhất với chứng thư thẩm định giá, không có khiếu nại hay yêu cầu tiến hành định giá lại, nên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng căn cứ vào chứng thư thẩm định giá trên để giải quyết vụ án.

[2.2] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2024 đối với bà Lâm Thị P2 là mẹ ruột của nguyên đơn xác định là bà không có đổi phần đất nào với em ruột là ông Lâm S2, phần đất đang tranh chấp là của cha mẹ bà chết để lại, cha mẹ bà chỉ có hai người con là bà và ông Lâm S2, sau đó ông Lâm S2 đã chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn T vào khoảng năm 1992, việc chuyển nhượng không trả tiền một lần mà trả làm nhiều lần, bà biết việc chuyển nhượng này nhưng không có ý kiến hay ngăn cản gì. Tại Biên bản xác minh ngày 14/3/2025 đối với ông Châu Minh H4 là Trưởng ban N1 xác định ông P có biết việc ông S2 bán đất cho ông T nhưng không biết diện tích bán bao nhiêu, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đo đạc thực tế và ông cũng không biết có việc đổi đất giữa bà P2 và ông S2.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay và tại Biên bản xác minh ngày 02/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đối với bà Lâm Sung T1 là con ruột của ông Lâm S2 xác định là có biết việc cha bà bán đất cho ông T và tại thời điểm cha bà bán đất mẹ và các anh chị em bà không có ý kiến gì, nhưng cụ thể nội dung bán như thế nào thì bà không biết.

Hội đồng xét xử xét thấy, gia đình ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 065105 vào ngày 13/10/2016 tại thửa 1111, tờ bản đồ số 05, diện tích 341,4m². Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất có diện tích 341,4m² thuộc thửa đất số 1111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE065105 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/10/2016 cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3 là cấp lần đầu, đúng với đối tượng, đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm đăng ký có đo đạc thực tế, được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận ngày 29/8/2016.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P cũng thừa nhận ông biết việc ông Lâm S2 đã chuyển nhượng phần đất đang tranh chấp cho ông T khoảng năm 2001-2002, trong khi ông P cho rằng năm 2000 ông S2 đã giao phần đất cho ông nhưng ông vẫn không có ý kiến hay phản đối gì với việc chuyển nhượng đất của ông S2 cho ông T. Tại Biên bản hòa giải cơ sở ngày 15/12/2022 của Ủy ban nhân dân xã P, ông P khai đã biết cậu ông chuyển nhượng đất cho ông T và ông chỉ yêu cầu trả lại phần diện tích đất mà ông T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.3] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lâm S2 và ông Huỳnh Văn T, không có việc đổi đất giữa bà Lâm Thị P2 với ông Lâm S2 như nguyên đơn trình bày, mặt khác bà P2, ông P cũng như con của ông Lâm S2 đều biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lâm S2 với ông Huỳnh Văn T nhưng không ai có ý kiến hay ngăn cản gì, đều này cho thấy những người trên cũng đã thống nhất việc chuyển nhượng này. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 228.7m² thuộc thửa 1111 là của ông là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại công văn của Ủy ban nhân dân huyện C xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3 là đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm đăng ký và có đo đạc thực tế và đã được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận ngày 29/8/2016. Như đã nhận định trên thì bị đơn thực tế có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có quá trình sử dụng đất từ năm 2003, có xây dựng nhà kiên cố. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 065105 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3 là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì mới làm thay đổi bản chất vụ án, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần thiết giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Về án phí: Nguyên đơn có đơn xin miễn án phí và được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Sơn Kim P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ).

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Sơn Kim P về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 228.7m² thuộc thửa 1111, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho ông và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 065105 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn T và bà Thạch Thị S3 vào ngày 13/10/2016 tại thửa 1111, tờ bản đồ số 05, diện tích 341,4m². Phần đất có số đo và tứ cận như sau:

    • - Hướng Đông giáp phần đất thửa 342 (ký hiệu B2) có số đo 17m.
    • - Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 1111 (ký hiệu là A) có số đo 5.53m + 11.43m.
    • - Hướng Nam giáp phần đất thửa 342 (ký hiệu B1) có số đo 5.11m + 9.42m.
    • - Hướng Bắc giáp vỉa hè đường trục chính có số đo 14m.
    • (kèm theo sơ đồ)
  2. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại
  • Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - THADS thành phố Cần Thơ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu (Án - Trúc).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Minh

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Trần Ngọc Tuấn

Nguyễn Đắc Minh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 24/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger