TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 232/2025/HNGĐ-ST Ngày 17-11-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Việt Thắng.
Ông Văn Công Trọn.
– Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 249/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn Â, sinh năm 1982; Căn cước công dân số [...], cấp ngày 27/4/2021; địa chỉ: Ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp D, xã S, tỉnh Cà Mau; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Trần Văn  trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị G sống chung năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Cà Mau năm 2010, hiện tại vợ chồng anh không còn sống chung với nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị G.
Về con chung: Có 04 người con chung, cháu Trần Hoàng K sinh ngày 20/10/2007, Trần Hoàng H sinh ngày 14/3/2011, Trần Phi D sinh ngày 06/12/2012 và Trần Vạn T sinh ngày 21/11/2015; cháu K đã đủ tuổi trưởng thành có cuộc sống riêng không yêu cầu Toà án giải quyết; các cháu H, D, T hiện đang sống cùng chị G. Anh yêu cầu giao con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng các con, anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh xác định tài sản chung không lớn, giá trị không nhiều, hiện anh đang quản lý sử dụng, xác định tự thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, bị đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị thống nhất lời trình bày của anh  về thời gian chung sống, thời gian kết hôn. Hôn nhân do chị tự nguyện lựa chọn, chị đồng ý ly hôn với anh Â.
Về con chung: Chị và anh  có 04 người con chung là Trần Hoàng K sinh ngày 20/10/2007, Trần Hoàng H sinh ngày 14/3/2011, Trần Phi D sinh ngày 06/12/2012 và Trần Vạn T sinh ngày 21/11/2015; cháu K đã trưởng thành có cuộc sống riêng không yêu cầu Tà án giải quyết; các cháu H, D, T hiện đang sống cùng chị, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các cháu H, D, T. Chị yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật với tổng mức cấp dưỡng cho ba người con chung số tiền là 4.000.000 đồng/tháng, mỗi cháu bình quân là 1.333.000 đồng/tháng cho đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi. Thời gian yêu cầu cấp dưỡng tính từ tháng 01 năm 2026.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định chị sẽ tự thỏa thuận với anh Â, không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án này, nếu có phát sinh tranh chấp chị sẽ khởi kiện trong một vụ án khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Vụ việc theo yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh  và chị G tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S vào ngày 13/8/2010 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị anh chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, anh  yêu cầu ly hôn, chị G đồng ý ly hôn. Xét thấy các đương sự tự nguyện ly hôn, sự thỏa thuận không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, áp dụng Điều 55 của Luật hôn nhân gia đình. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh  và chị G.
[3] Về con chung: Anh chị có 04 người con chung, Trần Hoàng K sinh ngày 20/10/2007, Trần Hoàng H sinh ngày 14/3/2011, Trần Phi D sinh ngày 06/12/2012 và Trần Vạn T sinh ngày 21/11/2015; cháu K đã đủ tuổi trưởng thành có cuộc sống riêng không yêu cầu toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét; các cháu H, D, T hiện đang sống cùng chị G, anh chị thống nhất giao con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi người cũng như sự phù hợp cho phát triển của các cháu để quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng. Chị G hiện là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu và anh chị đều thống nhất giao con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, tại phiên toà có ghi nhận nguyện vọng của các con chung H, D, T và các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng với chị G, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu cho chị Giàu tục nuôi dưỡng là phù hợp với sự phát triển của các cháu, nguyên vọng các bên và đúng với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét yêu cầu của chị G về việc cấp dưỡng cho con: Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Trần Hoàng H sinh ngày 14/3/2011, Trần Phi D sinh ngày 06/12/2012 và Trần Vạn T sinh ngày 21/11/2015 là con chung của chị G và anh  nên anh chị phải cùng có trách nhiệm, anh  không đồng ý cấp dưỡng cho con chung là chưa đúng quy định pháp luật. Bởi lẽ, theo quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh  không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTPngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, mức cấp dướng không được thấp hơn ½ mức lương tối thiểu vùng. Theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ, mức lương tối thiểu vùng III là 3.860.000 đồng/tháng, mức cấp dưỡng tối thiểu là 1.930.00 đồng/tháng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, chị G yêu cầu mức cấp dưỡng cho các con chung mỗi tháng là 4.000.000 đồng, cụ thể số tiền cấp dưỡng chị yêu cầu đối với mỗi cháu là 1.333.000 đồng/tháng cho đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, mức cấp dưỡng này là thấp hơn so với cấp dưỡng theo mức pháp luật quy định nhưng là sự tự nguyện yêu cầu của chị G và có lợi cho người phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc anh  cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Số tiền cấp dưỡng được làm tròn thành 1.350.000 đồng/cháu. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 01 năm 2026 đến khi con đủ 18 tuổi.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh  và chị G xác định tự thoả thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp các bên có quyền khởi kiện trong một vụ kiện khác.
[6] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Â, chị G mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí công nhận thuận tình ly hôn; ngoài ra anh  còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Như vậy anh  phải chịu 450.000 đồng án phí, số tiền tạm ứng án phí  đã nộp được khấu trừ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 55, 81, 82, 83, 84, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTPngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP30 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ; điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Văn  và chị Nguyễn Thị G.
- Về con chung: Giao con chung cháu Trần Hoàng H sinh ngày 14/3/2011, Trần Phi D sinh ngày 06/12/2012 và Trần Vạn T sinh ngày 21/11/2015 cho chị Nguyễn Thị G chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện các cháu đang ở với chị Nguyễn Thị G.
Buộc anh Trần Văn  cấp dưỡng nuôi cháu Trần Hoàng H hàng tháng, mỗi tháng 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng; kể từ tháng 01/2026 đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Buộc anh Trần Văn  cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phi D hàng tháng, mỗi tháng 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng; kể từ tháng 01/2026 đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
Buộc anh Trần Văn  cấp dưỡng nuôi cháu Trần Vạn T hàng tháng, mỗi tháng 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng; kể từ tháng 01/2026 đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Kể từ khi chị Nguyễn Thị Giàu C đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Trần Văn  chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng anh Trần Văn  còn phải chịu thêm phần lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Anh Trần Văn  có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Nguyễn Thị G. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Anh Trần Văn  phải chịu 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001516 ngày 10 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau. Anh  còn phải nộp 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Chị Nguyễn Thị G phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hợp |
Bản án số 232/2025/HNGĐ-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 232/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
