|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/5/5025 V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Viết Chấn.
Bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhị – Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 15/5/2025, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 04/3/2025 về việc: “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-DS ngày 25/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995. Nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Võ N, sinh năm 1992. Nơi thường trú: Thôn 5, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Tôi và anh Võ N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2015. Sau khi kết hôn anh N thường xuyên đánh đập tôi, hay nhậu nhẹt, không chăm lo cho gia đình. Tôi đã khuyên can nhiều lần nhưng anh N không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay cảm thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó tôi làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Võ N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có hai người con chung là cháu Võ Thị Nhã T, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Võ Thư Tuyết N, sinh ngày 29/02/2016. Tôi có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Tôi không yêu cầu anh Võ N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tổ tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H; Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Võ N; Về con chung: Giao hai con chung là cháu Võ Thị Nhã T, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Võ Thư Tuyết N, sinh ngày 29/02/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Võ N là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Võ N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 07/12/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Qua lời trình bày của chị Nguyễn Thị H thì nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh N thường xuyên đánh đập chị H, hay sử dụng rượu bia, không chăm lo cho gia đình; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Võ N nhưng bị đơn đều vắng mặt tại các buổi làm việc, không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương, quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh Nhật có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho gia đình.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa các bên không còn sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng; mâu thuẫn xảy ra trong thời gian dài; mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Võ N.
[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Nguyễn Thị H và anh Võ N có hai con chung là cháu Võ Thị Nhã T, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Võ Thư Tuyết N, sinh ngày 29/02/2016, nguyện vọng của các cháu là được ở với mẹ; nguyện vọng của chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung đến tuổi trưởng thành. Để đảm bảo tâm lý; điều kiện học hành; sinh hoạt và không gây xáo trộn trong cuộc sống của các con chung, HĐXX xét thấy cần giao hai con chung là cháu Võ Thị Nhã T và cháu Võ Thư Tuyết N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Võ N cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Anh Võ Nhật có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, anh Võ Nhật không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung; nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự,
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Võ N.
- - Về con chung: Giao các con chung là cháu Võ Thị Nhã T, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Võ Thư Tuyết N, sinh ngày 29/02/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Võ Nhật cấp dưỡng nuôi con chung.
- Anh Võ N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, anh Võ N không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
- - Về tài sản chung; nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003024 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lưu Thị Ngọc Thủy |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 15/05/5025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/5025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
