|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2026/HS-PT Ngày 15 tháng 01 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang
Bà Đinh Thị Kiều Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Linh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Văn Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 473/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo Vũ Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 138/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo: Vũ Đức, sinh ngày 12/10/1998; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: E, tổ A, khu phố E, phường L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên cha: Vũ N, sinh năm 1970; Tăng Thị Thu H, sinh năm 1969; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
(Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, bị đơn dân sự nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Vũ Đức có giấy phép lái xe ô tô theo quy định của pháp luật, lái xe thuê cho Công ty TNHH một thành viên T. Khoảng 07 giờ 23 phút ngày 21/01/2025, Đ điều khiển xe ô tô tải mang biển số 60C-441.76 đi từ phường T để đến Công ty Đ1. Khi đi đến đường số A, Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (hướng ngã tư B nước đi ngã tư Vũng Tàu, nay là phường T, tỉnh Đồng Nai), đây là đoạn đường có Biển báo hiệu đường bộ với vận tốc tối đa cho phép là 50Km/h. Tuy nhiên, Đ đã điều khiển xe ô tô chạy với vận tốc 63Km/h thì phát hiện phía trước đi ngược chiều có ông Trịnh Văn C, (ông C không có giấy phép lái xe theo quy định), đang điều khiển xe mô tô biển 61L1-9659 (có dung tích xi lanh 108 cm3) chuyển hướng, rẽ trái sang đường để vào Công ty G. Do Đ điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, không làm chủ được tay lái nên phần đầu bên phải xe ô tô do Đ điều khiển va chạm vào bên phải xe mô tô Biển số 61L1-9659 do ông Trịnh Văn C điều khiển, khiến xe mô tô và ông C đổ ngã xuống lề đường trái (theo hướng ngã tư Vũng Tàu đi ngã tư B nước). Hậu quả: ông Trịnh Văn C chết tại hiện trường.
2. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án số 138/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Vũ Đ 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 18 tháng 09 năm 2025 bị cáo Vũ Đ làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận. Do đó, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo quy định pháp luật.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào việc bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó, cấp sơ thẩm xét xử tuyên phạt bị cáo mức án 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo, nhưng không cung cấp thêm được tình tiết mới để Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Vũ Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 138/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Vũ Đ 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Vũ Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nam Phương |
Bản án số 23/2026/HS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 23/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 473/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo Vũ Đức, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 138/2025/HS-ST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.
