|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG Bản án số: 22/2025/DS-ST Ngày 28-11-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Duyên
Bà Nguyễn Minh Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2025/TLST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐST- DS ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H; nơi cư trú: Số A T, tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Trọng A - Giám đốc Công ty L; nơi cư trú: Số C L Chung cư H, phường A, thành phố Hải Phòng, theo Hợp đồng ủy quyền số 08/2024/HĐUQ- ĐGAP ngày 18/8/2024; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1; cùng nơi cư trú: Số A T, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 11 năm 2024, các bản tự khai đề ngày 06/8/2025, ngày 19/8/2025 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Trọng A trình bày:
Do quan có mối quan hệ hàng xóm, ông Trần Văn H đã cho vợ chồng ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 vay tiền để sử dụng vào việc cá nhân với tổng số tiền 175.000.000 đồng. Đến ngày 16/01/2024, ông T và bà H1 đã ký giấy vay tiền với ông H với nội dung ông T và bà H1 xác nhận: “Chúng tôi có vay của ông Trần Văn H số tiền là 175.000.000 đồng. Tôi xin hẹn sang cuối tháng 1 âm lịch sẽ hoàn trả đầy đủ. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Hàng tháng tôi gửi lãi cho ông H đầy đủ”; về lãi suất: Không thỏa thuận cụ thể mức lãi suất.
Quá trình thực hiện hợp đồng vay, vợ chồng ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 chưa trả tiền lãi cho ông Trần Văn H.
Ngày 22/8/2024, ông H gửi Thông báo yêu cầu ông T, bà H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, ông T và bà H1 không nhận thông báo và cũng chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Như vậy, theo cam kết của ông T, bà H1 thì kể từ ngày vay tiền ngày 16/01/2024 hàng tháng ông T, bà H1 phải trả lãi cho ông H vào cuối tháng 01 âm lịch (ngày 29/01/2024 âm lịch tức ngày 09/3/2024 dương lịch. Vì vậy, việc tính ngày vi phạm kể từ ngày 10/3/2024.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, nên ông Trần Văn H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải trả cho ông Trần Văn H theo Giấy vay tiền ngày 16/01/2024, tạm tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 với tổng số tiền là 205.157.534 đồng; cụ thể: Nợ gốc: 175.000.000 đồng; nợ lãi tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 là 175.000.000 x 629 ngày x 10%/năm : 365 = 30.157.534 đồng.
- Ông T, bà H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi kể từ ngày 29/11/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Về án phí: Ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/6/2024; bản tự khai ngày 19/8/2025; bản tự khai ngày 09/10/2025, bị đơn ông Khoa Năng T trình bày như sau :
Do quan hệ hàng xóm, vợ chồng ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 đã vay tiền của ông Trần Văn H nhiều lần để làm ăn với tổng số tiền 175.000.000 đồng. Đến ngày 16/01/2024, ông T và bà H1 đã ký giấy vay tiền với ông H với nội dung: “Tên tôi là Vương Thu H1, Khoa Năng T. Chúng tôi có vay của ông Trần Văn H số tiền là 175.000.000 đồng. Tôi xin hẹn sang cuối tháng 1 âm lịch sẽ hoàn trả đầy đủ. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Hàng tháng tôi gửi lãi cho ông H đầy đủ”; về lãi suất: Không thỏa thuận cụ thể mức lãi suất. Việc vay nợ này là do bà H1 vay ông H, là chồng bà H1 nên ông T đã ký vào Giấy vay tiền để ông H yên tâm là ông và vợ sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ; ngày 19/8/2025 ông T khai xác nhận tiền nợ gốc 150.000.000 đồng và 25.000.000 đồng là tiền lãi tính đến ngày xác nhận là ngày 16/01/2025. Tuy nhiên đến ngày 09/10/2025, ông T khẳng định lại số tiền vay của ông H được chốt đến ngày 16/01/2024 là 175.000.000 đồng là đúng. Nhưng do làm ăn khó khăn, đến nay ông T, bà H1 vẫn chưa trả được nợ cho ông H như đã cam kết. Ông T đề nghị ông H miễn tiền lãi cho ông T, bà H1 và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông T, bà Vương Thu H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông T có quán điểm, nhưng bà H1 vắng mặt không có lý do, không có bản tự khai, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
* Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập chứng cứ trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; áp dụng Nghị quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm; áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải trả cho ông Trần Văn H theo Giấy vay tiền ngày 16/01/2024, tạm tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 với tổng số tiền là 205.157.534 đồng; cụ thể: Nợ gốc: 175.000.000 đồng; nợ lãi tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 là 175.000.000 x 629 ngày x 10%/năm : 365 = 30.157.534 đồng; ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 29/11/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ; về án phí: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật; hoàn trả lại cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.375.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1] Nguyên đơn ông Trần Văn H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải trả số tiền nợ theo Giấy vay tiền đã ký kết. Quá trình giải quyết vụ án căn cứ vào các tài liệu đương sự cung cấp và Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ, nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 hiện đang cư trú trên địa bàn phường H, thành phố Hải Phòng. Theo quy định của khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1; Điều 39; Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 3 Nghị Quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng.
+ Về thời hiệu khởi kiện:
[2] Tranh chấp giữa các bên trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo quy định của pháp luật thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; cũng như các bên đương sự không có ý kiến gì về yêu cầu áp dụng thời hiệu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn:
[3] Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Trọng A vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Ngày 22 tháng 10 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐST- DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đã triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, ông T vắng mặt, bà H1 không có mặt tại địa phương và không có lý do, không có căn cứ bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Như vậy, bị đơn là bà H1 hiện đi đâu không báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Do đó, bị đơn thuộc trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Dân sự . Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
+ Về việc áp dụng pháp luật:
[4] Ngày 16/01/2024 nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng vay tiền thể hiện văn bản là “Giấy vay tiền”. Người tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện; mục đích của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đực xã hội; phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, Hợp đồng vay tài sản trên là trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 463, 465,466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về pháp luật nội dung:
+ Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản tiền nợ gốc:
[5] Nguyên đơn đã thực hiện xong hợp đồng, bàn giao toàn bộ số tiền vay đầy đủ cho bị đơn. Đến ngày 16/01/2024, hai bên thống nhất số tiền nợ gốc là 175.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết, bị đơn chưa trả được tiền cho nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền gốc 175.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
+ Xét yêu cầu của nguyên đơn về thời điểm tính lãi:
[6] Căn cứ Giấy vay tiền ngày 16/01/2024 đã được ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 xác nhận cuối tháng 1 âm lịch sẽ trả tiền cho ông H (ngày cuối cùng của tháng 1 âm lịch năm 2024 là ngày 09 tháng 3 năm 2024 dương lịch). Tuy nhiên, đến ngày 09/3/2024, ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Do đó căn cứ khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về thời điểm tính lãi của nguyên đơn kể từ ngày 10/3/2024 là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về mức lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu tiền lãi là 10%/năm. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, xét yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông H số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 là 175.000.000 x 629 ngày x 10%/năm : 365 = 30.157.534 đồng.
[8] Từ những phân tích và đánh giá như trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải trả cho ông Trần Văn H khoản tiền còn lại theo Giấy vay tiền ngày 16/01/2024 đã ký kết.
+ Về án phí:
[9] Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải bàu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 10.258.000 (mười triệu hai trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
Trả lại cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.375.000 (bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005781 ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng (nay là Thi hành án dân sự thành phố H).
+ Về quyền kháng cáo:
[10] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 463, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H: Buộc ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải trả cho ông Trần Văn H theo Giấy vay tiền ngày 16/01/2024, tạm tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 với tổng số tiền là 205.157.534 (hai trăm linh năm triệu, một trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm ba mươi tư) đồng; cụ thể:
- + Nợ gốc: 175.000.000 đồng
- + Nợ lãi tính từ ngày 10/3/2024 đến ngày 28/11/2025 với tổng số tiền là 205.157.534 đồng; cụ thể: Nợ gốc: 175.000.000 đồng; nợ lãi tính từ ngày 10/3/2025 đến ngày 28/11/2025 là 629 ngày x 10%/năm : 365 = 30.157.534 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 phải liên đới phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là (205.157.534 x 5%) = là 10.258.000 (mười triệu hai trăm năm mươi tám nghìn) đồng.
Trả lại cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.375.000 (bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005781 ngày 28 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng (nay là Thi hành án dân sự thành phố H).
- Về quyền kháng cáo: Ông Trần Văn H, ông Khoa Năng T và bà Vương Thu H1 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 22/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H - Khoa Năng T Vương Thu H
