|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN Bản án số: 21/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29-01-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tấn và ông Nguyễn Đình Bảng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Luyện Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 164/2025/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐST-DS ngày 25/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị D, sinh năm 1986; nơi cư trú: Xóm M, xã V, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm M, xã V, tỉnh Nghệ An (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 8 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ) vào ngày 02/3/2010.
Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay.
Nguyên nhân: Vợ chồng không tin tưởng nhau và không có tiếng nói chung, hai bên bỏ mặc không có trách nhiệm với nhau dẫn đến chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng đã nhiều năm. Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn A, sinh ngày 21/10/2009 và Nguyễn Hà Thu H, sinh ngày 02/3/2015. Hiện nay chị D đang nuôi dưỡng con chung. Con khỏe mạnh.
Nếu ly hôn Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi hai con chung không yêu cầu anh Tam cấp D1 nuôi con.
- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T quá trình giải quyết đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên anh T không có ý kiến cũng như không có mặt tại Toà án để làm việc. Song qua các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp về quan hệ hôn nhân, con chung đúng như nguyên đơn trình bày.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An về việc giải quyết vụ án:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã không thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào ngày 02/3/2010. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị D và anh T sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Xét thấy: Hôn nhân giữa chị D và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D.
Về con chung: Chị D và anh T có hai con chung tên là Nguyễn Văn A, sinh ngày 21/10/2009 và Nguyễn Hà Thu H, sinh ngày 02/3/2015, hiện hai con đều đang ở với chị D. Chị D đề nghị được nuôi cả hai con, con chung cũng có nguyện vọng ở với chị D, do đó cần giao cháu A, cháu H cho chị D nuôi dưỡng đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D chư ayeeu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị D phải chịu 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt phiên họp và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị D và không có yêu cầu phản tố.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên hòa giải lần thứ 2 và kết quả phiên họp mà vẫn vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được, theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa nhưng nguyên đơn chị D có mặt, bị đơn anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[2] Về Hôn nhân: Chị Hà Thị D và anh Nguyễn Văn T được Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 21/2010 ngày 02 tháng 3 năm 2010, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xẩy ra mâu thuẫn.
Nguyên nhân: Vợ chồng không tin tưởng nhau và không có tiếng nói chung, hai bên bỏ mặc không có trách nhiệm với nhau dẫn đến chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng đã nhiều năm.
Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Tòa án đã vận động thuyết phục chị D rút đơn về đoàn tụ gia đình nhưng chị D không chấp nhận mà yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn. Bị đơn anh T cũng không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị D, cho thấy anh T cũng không có ý thức tiếp tục xây dựng hôn nhân với chị D.
Xét đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị D xin ly hôn anh T là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị D và anh T có hai con chung Nguyễn Văn A, sinh ngày 21/10/2009 và Nguyễn Hà Thu H, sinh ngày 02/3/2015. Hiện nay chị D đang nuôi dưỡng con chung. Con khỏe mạnh.
Nếu ly hôn chị D có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị D đang nuôi dưỡng con chung, cháu A, H có nguyện vọng được ở với chị D để thuận tiện việc sinh hoạt, học tập, do đó cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị D.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thị D chưa yêu cầu anh Tam cấp D1 nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị Hà Thị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Hà Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị D.
- Về Hôn nhân: Cho chị Hà Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về nuôi con: Giao con chung Nguyễn Văn A, sinh ngày 21/10/2009 và Nguyễn Hà Thu H, sinh ngày 02/3/2015 cho chị Hà Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh T, chị D có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con.
- Án phí: Chị Hà Thị D chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001664 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Hà Thị D đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Xuân Thọ |
5
Bản án số 21/2026/HNGĐ-ST ngày 29/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 21/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân gia đình DUNG - TAM
