|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2026/DS-PT Ngày: 12-01-2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Bà Đinh Thị Quý Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 415/2025/TLPT - DS ngày 30/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 585/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ A, ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai). (có mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K: là ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước nay là phường B, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1945 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ H, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai).
Ông Lê Văn T, sinh năm 1940 (đã chết ngày 22/4/2007).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông T gồm bà Lê Thị Hồng N và những người con của ông T đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Bà Lê Thị Phương T1, sinh năm 1977 (có mặt)
- Ông Lê Thành T2, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Phương T3, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Phương T4, sinh năm 1975 (có mặt)
- Bà Lê Thị Phương T5, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ D, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước nay là phường B, tỉnh Đồng Nai.
Đ1 chỉ: Ấp Q, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước nay là xã T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Thành T2 là bà Lê Thị Phương T1, sinh năm 1977 (có mặt)
Thường trú: Số A, hẻm K, đường Đ, tổ C, khu phố A, thị trấn V, huyện P, tỉnh Bình Dương nay là xã P, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: Đường P, tổ C, khu phố G, thị trấn V, huyện P, tỉnh Bình Dương nay là xã P, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Tổ C, khu phố B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước nay là phường B, tỉnh Đồng Nai
Cùng địa chỉ: Tổ D, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước nay là phường B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị Phương T5 là bà Lê Thị Phương T1, sinh năm 1977 (có mặt)
Do có kháng cáo của: Bị đơn bà Lê Thị Hồng N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản khai tại Tòa án, cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:
Ngày 20/10/1994, ông K có thỏa thuận và ký kết “Giấy sang nhượng đất” để nhận chuyển nhượng 01 thửa đất diện tích 12 x 34m = 408m² tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 925/GCN - SB; sổ địa chính 459, ký ngày 24/7/1991 (sổ trắng) của bà Lê Thị Hồng N và ông Lê Văn T, giá hai bên thỏa thuận là 37 chỉ vàng (24k, 97 tuổi). Ông K có đưa trước cho bà N ông T 02 chỉ vàng, số còn lại thỏa thuận sẽ thanh toán đủ sau khi hợp thức hóa giấy tờ xong trong khoảng thời gian 1.5 tháng đến 2 tháng, giấy sang nhượng này có ký xác nhận của trưởng ấp ông Bùi Đức V và có chữ ký đầy đủ của bên mua, bên bán cùng 02 người làm chứng ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị T6. Đến ngày 04/12/1994, ông K thanh toán thêm cho bà N ông T 05 chỉ vàng, có ghi bổ sung vào giấy sang nhương sau đó 02 bên đã thỏa thuận thời hạn thanh toán đến cuối tháng 1 năm 1995. Ông K là người trực tiếp viết, soạn thảo nội dung sau khi soạn thảo xong các bên đọc lại, thống nhất nội dung và ký tên vào giấy sang nhượng. Tuy nhiên, đến tháng 7/1995, do nhu cầu sử dụng đất của ông K cũng như việc hạn hẹp về tài chính nên 02 bên ông K và bà N ông T đã nhất trí thỏa thuận lại (lần 2), thay đổi thỏa thuận lại nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đó ông K chỉ nhận chuyển nhượng ½ thửa đất. Hai bên nhất trí và viết lại “Giấy sang nhượng đất thổ cư”, hai bên thỏa thuận, ông K nhận chuyển nhượng của ông T, bà N phần đất có diện tích đất 6x34m= 204m² (đã trừ hành lang lộ giới 15m) tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé, giá là 12 chỉ vàng tương đương 6.000.000 đồng, ông K đã giao đủ tiền. Giấy sang nhượng có đủ bên mua K, bên bán bà N, ông T, người làm chứng ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn P và ông Bùi Đức V trưởng ấp ký. Vị trí cụ thể của thửa đất nhận chuyển nhượng: Phía đông giáp đất ông Trần Trí Đ2; Phía tây giáp đường N; Phía nam giáp đất bà Lê Thị Kim Y; Phía bắc giáp đất bà Nguyễn Thị T7. Tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 925/GCN-SB; Sổ địa chính 459, ký ngày 24/7/1991, tại thời điểm nhận chuyển nhượng là đất trống.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Giấy sang nhượng đất thổ cư, các bên cũng đã tiến hành các thủ tục như: Bà N, ông T đã làm đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn A, chuyển Phòng tư pháp huyện B để chứng thực. Ngày 04/8/1995, tại Phòng tư pháp huyện Bình Long, các bên lập “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ghi nhận cụ thể các nội dung và đã được chứng nhận số 24/CC, có sơ đồ vị trí thửa đất kèm theo, ông K có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhà đất ông K vẫn nộp đầy đủ. Nhưng do chưa có điều kiện cất nhà và đang công tác ở xa (huyện C), nên ông K chưa về làm thủ tục tách thửa xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất ông K đã nhận chuyển nhượng từ bà N, ông T. Nay ông K có nhu cầu thực hiện hợp đồng, ông K liên hệ bà N thì gia đình bà N không hợp tác.
Ông K yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng tư pháp huyện Bình Long chứng thực số 24 ngày 04/8/1995 giữa ông Nguyễn Văn K với ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N về việc nhận chuyển nhượng đối với diện tích 204m² tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 925/GCN- SB; sổ địa chính 459, ký ngày 24/7/1991 của bà Lê Thị Hồng N và ông Lê Văn T. Buộc bà Lê Thị Hồng N có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện thủ tục tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn K đối với diện tích 204m².
Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn ông K và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể yêu cầu bà N trả cho ông K giá trị mảnh đất theo giá thị trường hiện nay.
Bị đơn bà Lê Thị Hồng N đồng thời là người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông T trình bày:
Bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà N hiện nay chỉ còn lưu giữ 01 giấy sang nhượng đất vào 20/10/1994 do vợ chồng ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N ký với ông Nguyễn Văn K, thời điểm đó tất cả thỏa thuận và thủ tục là do chồng bà N là ông T chuẩn bị và làm sẵn, khi thống nhất các thỏa thuận và ký kết “Giấy sang nhượng đất” chồng bà N đưa cho bà N ký, thể hiện vợ chồng bà chuyển nhượng lại 01 thửa đất diện tích 12x34m= 396m² tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé, giá 02 bên thỏa thuận là 37 chỉ vàng 24k, 9.7 tuổi, ông K đã giao 02 chỉ vàng. Số còn lại thỏa thuận sẽ thanh toán đủ sau khi hợp thức hóa giấy tờ xong trong khoảng thời gian 1.5 tháng đến 2 tháng, giấy sang nhượng này có ký xác nhận của trưởng ấp ông Bùi Đức V và có chữ ký đầy đủ của bên mua, bên bán cùng 02 người làm chứng ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị T6. Đến ngày 04/12/1995, ông K có thanh toán thêm cho bên vợ chồng bà N 05 chỉ vàng, có ghi bổ sung vào giấy sang nhương sau đó 02 bên đã thỏa thuận thời hạn thanh toán đến cuối tháng 1 năm 1995. Tổng cộng gia đình bà N nhận từ ông K 07 chỉ vàng, sau đó, ông K không thực hiện việc giao đủ số vàng thỏa thuận nhận chuyển nhượng, cũng không về làm việc với gia đình bà N từ đó đến nay. Vì vậy, gia đình bà N xác định ông K đã bỏ cọc không tiếp tục nhận chuyển nhượng nữa. Còn “Giấy sang nhượng đất thổ cư” ký vào ngày 07/7/1995 và các Hợp đồng chuyển nhượng có chứng thực tại Phòng Tư pháp huyện Bình Long mà ông K nộp cho Tòa án, bà N không nhớ có ký hay không, cũng không nhớ có giấy tờ đó. Khi Hòa giải ở xã phường ông K đưa ra bà N mới biết có tờ giấy đó vì thời điểm đó chủ yếu các thủ tục giấy tờ do chồng bà N ông T thực hiện sau đó mới đưa cho bà N ký, hơn nữa thời điểm các bên thỏa thuận mua bán vào năm 1994 chỉ thỏa thuận bán đất bình thường không hề thỏa thuận mua bán đất thổ cư, nhưng đến hợp đồng năm 1995 ông K cung cấp lại là mua bán chuyển nhượng đất thổ cư. Bà N xác định chưa thực hiện thủ tục ra UBND xã, phường làm “đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” và lên Phòng tư pháp huyện Bình Long để ký kết hợp đồng chứng thực bao giờ, chỉ ký Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng tay, có người làm chứng tại nhà. Vì vậy, bà N không biết các giấy tờ ông K cung cấp tại Tòa án ông K lấy ở đâu. Bà N là người bán, đợi hết thời gian các bên cam kết thanh toán đủ tiền nhận chuyển nhượng mà bên ông K vẫn không thực hiện đủ, nên coi như ông K đã bỏ cọc không nhận chuyển nhượng nữa, ông K cũng không liên hệ gì với gia đình bà N để sang tên quyền sử dụng đất. Từ đó đến nay gia đình bà N vẫn là người quản lý, sử dụng đất ổn định. Gia đình bà N cũng đã thực hiện nhiều lần các thủ tục tách thửa, chuyển nhượng 01 phần diện tích cho người khác, khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động tại cơ quan có thẩm quyền cũng không thấy bị cản trở hoặc thông báo gì về việc có chuyển nhượng cho ông K. Khi ông K muốn nhận chuyển nhượng 01 thửa đất và giao vàng cho gia đình bà N năm 1994, gia đình bà N cũng đi đặt cọc nhận chuyển nhượng 01 thửa khác, nên khi ông K không giao đủ số vàng theo thỏa thuận chuyển nhượng gia đình bà N cũng mất cọc. Mặt khác, theo ông K trình bày đã giao đủ số vàng nhận chuyển nhượng vào ngày 07/7/1995 tại sao đến tháng 12/1995 mới cọc thêm 5 chỉ và nếu đủ các chứng từ pháp lý từ năm 1995 ông K không thực hiện việc sang tên mà để đến hiện nay, đề nghị Tòa án xem xét. Gia đình bà N hiện đang trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất trên hơn 30 năm không phát sinh tranh chấp, qua nhiều lần cấp đổi Giấy chứng nhận, tách thửa, cập nhật biến động cũng không bị cản trở thủ tục pháp lý gì liên quan đến ông K. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông K là không có căn cứ.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông T đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Lê Thanh T8, bà Lê Thị Phương T1; bà Lê Thị Phương T4 và bà Lê Thị Phương T5 trình bày:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của khánh, đề nghị Tòa án giải quyết bác toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn K.
Người làm chứng ông Trần Quang V1 (Bùi Đức V) trình bày:
Ông V xác định có ký vào giấy sang nhượng, chứng kiến việc ông K nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Hồng N và ông Lê Văn T một mảnh đất, ông V có ký xác nhận việc các bên thỏa thuận, còn sau đó các bên thực hiện việc sang nhượng như thế nào thì không biết.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn P trình bày:
Vào khoảng năm 1994, 1995 ông P có chứng kiến việc ông K nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Hồng N và ông Lê Văn T một mảnh đất, ông P có ký làm chứng các bên sang nhượng trong giấy gi đã giao nhận đủ tiền (Vàng) còn sau đó các bên thực hiện việc sang nhượng như thế nào thì không biết.
Người làm chứng bà Trần Thị T6 trình bày:
Bà xác định có chứng kiến việc ông K nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Hồng N và ông Lê Văn T một mảnh đất tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé, bà T6 có ký làm chứng đối với giấy mua bán lần thứ nhất, còn giấy mua bán lần thứ 2 bà T6 không ký.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Văn K về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 do ông Nguyễn Văn K với ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N.
- Các bên đương sự thống nhất chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 do ông Nguyễn Văn K với ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N.
- Buộc bà Lê Thị Hồng N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 1.282.830.000 (Một tỷ, hai trăm tám mươi hai triệu, tám trăm ba mươi nghìn) đồng, giá trị của mảnh đất có diện tích 140,2m², đất ở đô thị, thuộc thửa 217, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại tổ H, khu phố P, thị trấn A huyện B, tỉnh Sông Bé nay là khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 28/8/2025, bị đơn bà Lê Hồng N nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Với những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn huỷ Bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Hồng N làm trong thời hạn luật định, có hình thức, nội dung và phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Lê Thị Hồng N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào “Giấy sang nhượng đất ngày 20/10/1994” thể hiện ông Nguyễn Văn K thỏa thuận nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N một mảnh đất có diện tích ngang 12m, dài 34m tổng diện tích 408m², tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé nay là phường B, tỉnh Đồng Nai, với giá 37 chỉ vàng loại 24k, 97% nhưng sau đó hai bên thỏa thuận lại vào ngày 07/7/1995 thể hiện ông K nhận chuyển nhượng của ông T và bà N một phần đất có diện tích đất với chiều ngang 6m dài 34m, tổng diện tích 204m², tọa lạc tại tổ H, ấp P, xã A, huyện B, tỉnh Sông Bé nay là phường B, tỉnh Đồng Nai, các bên có làm giấy viết tay “Giấy mua bán đất thổ cư lập ngày 07/7/1995”, có người làm chứng ký tên, giá nhận sang nhượng là 12 chỉ vàng loại vàng 24k, 97%, tương ứng 6.000.000 đồng, ông K đã trả đủ tiền mua đất và nhận đất đã đóng cọc tại thời điểm nhận sang nhượng, các bên tiến hành làm thủ tục nhưng thời gian kéo dài do cơ chế, ông K phải về nhà sau đó bận công tác, đường xa đi lại khó khăn nên chưa thực hiện xong hợp đổng chuyển nhượng đến nay. Tại các giấy tờ và các hợp đồng thể hiện: Giấy mua bán đất ngày 20/10/1994; Giấy mua bán đất thổ cư lập ngày 07/7/1995; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 04/8/1995 có xác nhận của chính quyền địa phương; Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất; Các biên lai nộp thuế ghi ngày 10/02/2004; Biên bản xác minh ranh giới thửa đất, hiên trạng sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất, ngày 13/5/2004 có thể hiện diện tích sang nhượng cho ông K hiện tại còn lại là 140,2m² đất ở đô thị.
Xét thấy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn K với ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N lập ngày 04/8/1995 dưới hình thức văn bản, có thể hiện đầy đủ nội dung thoả thuận giữa các bên, việc ký kết là tự nguyện và có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, các bên cũng đã xác định đã giao nhận đủ tiền (vàng) và giao nhận đất, đảm bảo các điều kiện quy định tại các Điều 500, Điều 501, Điều 502 và Điều 503 của Bộ luật Dân sự nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, buộc các bên phải thực hiện.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông K và người đại diện theo ủy quyền thống nhất thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 và yêu cầu bà N phải hoàn lại giá trị thửa đất cho ông K theo giá thị trường, do bà N đã xây nhà ở và các công trình trên thửa đất, bà N không đồng ý giao đất, không đồng ý sang nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng đã ký kết.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại vị trí thửa đất các bên thoả thuận chuyển nhượng theo đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 hiện nay bà N đã xây nhà ở và các công trình trên thửa đất, ông T chết, bà N là người được nhận thừa kế tài sản và đang đứng tên, quản lý sử dụng thửa đất nên nguyên đơn yêu cầu bà N có nghĩa vụ phải hoàn trả giá trị mảnh đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 422 và Điều 500 của Bộ luật dân sự.
Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các các giấy tờ mua bán, sang nhượng, hợp đồng chuyển nhượng có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền có chữ ký của bà N và ông T và lời khai của người làm chứng ông V, ông P, bà T6, kết quả định giá tài sản ngày 12/6/2025 tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 do ông K với ông T, bà N và buộc bà N phải có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền 1.282.830.000 đồng, giá trị của mảnh đất là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, ông T đã chết nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T gồm: bà Lê Thị Hồng N, ông Lê Thanh T8, bà Lê Thị Phương T1; bà Lê Thị Phương T4 và bà Lê Thị Phương T5 phải có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại, Toà cấp sơ thẩm đã đưa các ông bà nói trên vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không tuyên buộc những người này cùng với bà N thực hiện nghĩa vụ của ông T để lại là có thiếu sót. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T đều được tham gia tố tụng ngay từ khi thụ lý vụ án và đều thể hiện ý kiến không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong khi đó, phía nguyên đơn chỉ yêu cầu bà N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn giá trị của thửa đất tranh chấp, không yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T cùng thực hiện nghĩa vụ cùng với bà N. Tại cấp phuc thẩm nguyên đơn khẳng định việc nguyên đơn không yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T phải thực hiện nghĩa vụ do ông T chết để lại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì sau khi ông T mất bà N là người thừa kế đứng tên toàn bộ diện tích đất nói trên. Do vậy, với những thiếu sót nói trên không cần thiết phải phải huỷ bản án mà chỉ cần nêu ra nhắc nhở cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
Bị đơn bà N kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của bà N không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà N là người cao tuổi nên được miễn.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị Hồng N;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai:
Căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 500 và Điều 422 của Bộ luật dân sự; Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Văn K về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 do ông Nguyễn Văn K với ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N.
- Các bên đương sự thống nhất chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày 04/8/1995 do ông Nguyễn Văn K với ông Lê Văn T và bà Lê Thị Hồng N.
- Buộc bà Lê Thị Hồng N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 1.282.830.000 (Một tỷ, hai trăm tám mươi hai triệu, tám trăm ba mươi nghìn) đồng, giá trị của mảnh đất có diện tích 140,2m², đất ở đô thị, thuộc thửa 217, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại tổ H, khu phố P, thị trấn A huyện B, tỉnh Sông Bé nay là khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (ngoài các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K tự nguyện chịu 5.000.000 (năm triệu) đồng, tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo phiếu thu ngày 26/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K không phải chịu. Trả lại cho ông Nguyễn Văn K số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002222 ngày 09/10/2024 của Chi Cục Thi Hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Đồng Nai. Bị đơn bà Lê Thị Hồng N được miễn.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Lê Thị Hồng N được miễn.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 21/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 21/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Kh kiện bà Lê Hồng Nh
