Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 14 – 11 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu và ông Tường Duy Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn –Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST- ST ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Vừ A M; tên gọi khác: không; sinh năm: 1975; tại M - Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, phường M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vừ Chống D, sinh năm: 1957 và bà Vàng Thị N, sinh năm 1956; bị cáo có vợ Thào Thị P; sinh năm: 1978 và có 04 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2005;

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 18/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 6- Sơn La) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành là 24 tháng. Ngày 27/3/2025, Vừ A M chấp hành xong. Hiện đang quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 05/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã C (nay là UBND phường M), thời hạn từ ngày 18/4/2025 đến ngày 18/4/2027.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Vân H – Trại tạm giam Công an tỉnh S kể từ ngày 26/8/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 00 phút ngày 26/8/2025, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra, test ma túy định kỳ đối với Vừ A M là đối tượng đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 84/QĐ-UBND ngày 05/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã C (nay là UBND phường M), thời hạn từ ngày 18/4/2025 đến ngày 18/4/2027. Kết quả: Vừ A M dương tính với chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã thành lập hội đồng để tiến hành test ma tuý lần 2, kết quả Vừ A M dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine nên đã tổ chức thu mẫu nước tiểu của Vừ A M, mẫu có ký hiệu M1 gửi giám định chất ma túy và lập biên bản sự việc để điều tra xử lý.

Ngày 27/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra Lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Vừ A M tại bản T, phường M, tỉnh Sơn La. Kết quả: Không thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 1048/KL-KTHS ngày 30/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có chất ma túy; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Ngày 04/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi Vừ A M sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện trường được xác định là khu đồi núi đá thuộc bản T, xã T, tỉnh Sơn La. Phía Tây giáp với rừng cây; Phía Bắc giáp với núi đá; Phía Đông giáp với núi đá; Phía Nam giáp với đường đất rải đá dăm đi ra đường bản Tà Phềnh, mặt đường rộng 1,8m. Khu đồi núi đá có diện tích 400m2, có nhiều bụi cây cao, địa hình bằng phẳng.

Tại hiện trường, vị trí nơi Mua sử dụng ma túy được xác định ở trên nền đất trong bụi cây thuộc khu đồi đá (vị trí số 1). Khoảng cách từ vị trí số 1 đến mép đường đất dải đá răm đi ra bản Tà Phềnh là 13,5m; từ vị trí số 1 đến vách núi đá là 12,5m. Cơ quan điều tra truy tìm mảnh giấy bạc cùng bật lửa ga màu đỏ nhưng không phát hiện thu giữ được.

Ngày 04/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho Vừ A M diễn lại hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 24/8/2025, kết quả Vừ A M diễn lại phù hợp với lời khai của Mua tại Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra Vừ A M khai nhận: Bản thân nghiện chất ma tuý và đã được đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, sau khi điều trị cai nghiện ma túy trở về địa phương được Ủy ban nhân dân xã C (nay là UBND phường M) ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy nhưng Mua vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 24/8/2025, Mua đi đến bản T, xã T, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến nơi thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, M hỏi và mua được của người đó 02 viên ma túy hồng phiến với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Vừ A M cầm số ma túy rồi đi đến một khu vực đồi nương vắng người trong bản Tà Phềnh, xã T. Mua cho ma túy vào một mảnh giấy bạc, sử dụng chiếc bật lửa màu đỏ đã chuẩn bị từ trước đốt và hít trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng hết số ma túy, M đã vứt bỏ chiếc bật lửa và mảnh giấy bạc tại bụi cây rồi đi bộ ra đường QL6 đón xe khách đi về nhà. Đến 06 giờ 50 phút ngày 26/8/2025, M được Công an phường M test ma tuý định kỳ đối với người đang trong diện quản lý sau cai nghiện và phát hiện Vừ A M dương tính với chất ma túy.

Vừ A M thực hiện hành vi phạm tội sau 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025, do đó áp dụng Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15, Điều 256a của Bộ luật Hình sự (Đã sửa đổi, bổ sung năm 2025) để truy tố đối với bị can Vừ A M.

Cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 24/10/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố Vừ A M về tội: Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (Được sửa, đổi bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Được sửa, đổi bổ sung năm 2025). Tuyên bố bị cáo Vừ A M phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Vừ A M;

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận, đối đáp gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. [2]. Về chứng cứ xác định có tội: Vừ A M đang trong thời hạn quản lý sau cai theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 05/5/2025 của UBND xã C (Nay là UBND Phường M), thời hạn từ 18/4/2025 đến 18/4/2027. Ngày 26/8/2025, Vừ A M đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamin thì bị Công an phường M kiểm tra, phát hiện thấy chất ma túy là Methamphetamine trong cơ thể của Vừ A M. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đang trong thời gian quản lý sau cai của Vừa A Mua được chứng minh bằng biên bản test nhanh mẫu nước tiểu đối với Vừ A M, Kết luận giám định trong mẫu nước tiểu M1 của Vừa A M có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/9/2025, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa... Vừ A M thực hiện hành vi phạm tội sau 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025, do đó áp dụng Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15, khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (Đã được sủa đổi bổ sung năm 2025) để truy tố, xét xử đối với bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội và các chứng cứ nêu trên khẳng định bị cáo Vừ A M đã phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  3. [3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, biết việc sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian quản lý sau cai là vi phạm các mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, cụ thể là: Sức khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người; chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về nhân thân: Bị cáo đã bị đưa đi cai nghiện tập trung. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.

    Xét đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đường lối xử lý vật chứng là có căn cứ. Nên được HĐXX chấp nhận.

  5. [5] Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại không đủ 45 ngày, do đó HĐXX tiếp tục tạm giam đối với bị cáo.
  6. [6]. Về vật chứng của vụ án:
    • Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Vừ A M là những vật không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Đối với mẫu M2 là vật không còn giá trị sử dụng do đó cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành hủy mẫu dự phòng ký hiệu M2 là đúng quy định.
  7. [7]. Đối với nguồn gốc số ma túy: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vừ A M, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không có căn cứ để điều tra xác minh là đúng quy định.
  8. [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  9. [9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15; điểm b khoản 1 Điều 256a, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Đã sửa đổi, bổ sung năm 2025).

    Tuyên bố bị cáo Vừ A M phạm tội: Tội sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que test thử ma tuý của Vừ A M;
    • Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành hủy mẫu dự phòng ký hiệu M2 là đúng quy định.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng số 25/BBVC-THA ngày 03/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La (02 bản);
  • - Công an;
  • - Trại tạm giam;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về hình sự - tội sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger