TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2026/HS-PT Ngày 13 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đắc Minh |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa |
| Ông Trần Ngọc Tuấn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 254/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Huy G do có kháng cáo của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2025/HS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:
Bị cáo: Vũ Huy G, sinh năm 1974; tại Thái Bình (nay là Hưng Yên); nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố C, phường Đ, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Làm nông; học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; cha tên Vũ Huy C, sinh năm 1947; mẹ tên Phạm Thị N, sinh năm 1947; bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 04 người chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1972 và nhỏ nhất sinh năm 1984; vợ tên Đỗ Thị L, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo G: Bà Nguyễn Trúc A – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người bị hại:
- Ông Vũ Văn P, sinh năm 1987 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước (Nay là: Thôn T, xã P, tỉnh Đồng Nai). - Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1979 (có mặt);
Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (Nay là: Khu phố A, phường Đ, tỉnh Đồng Nai).
(Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Quá trình quen biết với ông Phạm Xuân T, Vũ Huy G nói với ông T là G có khả năng xin vào biên chế ngành Công an hoặc thi đậu vào Trường đại học C1 nếu ai có nhu cầu thì giới thiệu cho G. Ông T có quen biết với ông Vũ Văn P và biết ông P muốn xin cho cháu là Trần Văn H (đang là chiến sỹ nghĩa vụ Công an) để thi đậu vào Trường đại học C1 nên T giới thiệu P đến gặp G. Ngày 17/6/2020, ông P cùng với ông T và ông Nguyễn Minh Q đến nhà của G, tại đây, G nói với ông P là G có quen biết với người tên Trần Ngọc H1 đang công tác trong Quân đội và H1 có nhiều mối quan hệ có khả năng can thiệp để H có thể thi đậu vào Trường đại học C1 hoặc được xét tuyển vào biên chế ngành Công an; G cho biết chi phí xin việc là 900.000.000đ và yêu cầu ông P phải đưa trước cho G số tiền 450.000.000đ, khi nhận giấy báo nhập học vào Trường đại học C1 hoặc quyết định tuyển dụng vào biên chế ngành Công an cho H thì ông P sẽ giao số tiền còn lại cho G. Nếu không xin được cho H thì G sẽ hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của ông P thì P đồng ý và giao cho G số tiền 450.000.000đ. Sau đó, từ ngày 17/6/2020 đến ngày 11/3/2021, G nhiều lần yêu cầu ông P chuyển thêm tiền và đưa tiền mặt.
Tổng số tiền ông P giao cho G là 880.000.000đ. Các lần giao nhận tiền G đều viết giấy biên nhận cho ông P. Sau khi nhận được tiền từ ông P, G chuyển tiền cho H1 thông qua tài khoản số 60110001191855 mở tại Ngân hàng B, chủ tài khoản là Huỳnh Thị Như T1 với tổng số tiền 200.000.000đ; chuyển tiền đến tài khoản số 19036626029014 mở tại Ngân hàng T2, chủ tài khoản là Nguyễn Hoàng G2 với tổng số tiền 286.000.000đ. Ngoài ra, G còn nhiều lần đưa tiền mặt trực tiếp cho H1 và dùng tiền nhận được từ ông P để mua quà gửi cho H1 để xin việc cho H. Đến thời hạn thỏa thuận, H không thi đậu vào Trường đại học C1 và cũng không được tuyển dụng vào biên chế ngành Công an nên ông P yêu cầu Giáp trả lại tiền nhưng G không trả nên ông P làm đơn tố cáo G.
Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 5/2020, Vũ Huy G nói với bà Lê Kim H2 nếu ai có nhu cầu xin việc vào ngành Công an hoặc muốn thi đậu vào Trường đại học C1 thì giới thiệu cho G. Thời điểm này, bạn của bà H2 là bà Nguyễn Thị G1 muốn xin cho Nguyễn Thị Lan A1 (con bà G1) thi đậu vào Trường đại học C1 và xin cho Nguyễn Văn N1 (cháu bà G1) được tuyển vào biên chế ngành Công an nên bà H2 giới thiệu cho bà G1 gặp G. Sau đó, G đến nhà bà H2 tại khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước gặp trực tiếp bà G1 để trao đổi, thỏa thuận. Qua trao đổi, G nói với bà G1 là G có nhiều mối quan hệ quen biết với lãnh đạo Trung ương, G cam kết chắc chắn có thể can thiệp để Lan A1 thi đậu vào Trường đại học C1 và N1 được tuyển dụng vào ngành Công an. G cho biết chi phí xin cho Lan A1 thi đậu vào Trường đại học C1 là 880.000.000₫ và chi phí xin cho N1 được tuyển dụng vào ngành Công an là 700.000.000đ, tổng chi phí là 1.580.000.000đ, bà G1 phải chuyển trước 50% số tiền cho G, G cam kết đến tháng 9/2021 sẽ có kết quả thì bà G1 sẽ giao số tiền 50% còn lại thì bà G1 đồng ý.
Sau đó, từ ngày 27/5/2020 đến ngày 16/6/2020, bà G1 nhiều lần chuyển tiền đến tài khoản số 1041000042812 mở tại Ngân hàng V1 chi nhánh B1 đứng tên Vũ Huy G số tiền 100.000.000₫, 230.000.000₫, 450.000.000₫ và 10.000.000đ, tổng số tiền là 790.000.000đ (tương đương 50% chi phí xin việc). Từ khoảng tháng 7/2020 đến tháng 9/2021, G nhiều lần yêu cầu bà G1 đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản đến tài khoản của G và tài khoản số 60110001191855 mở tại Ngân hàng B, chủ tài khoản là Huỳnh Thị Như T1, tổng số tiền là 1.180.000.000đ. tổng số tiền bà G1 đã chuyển cho G để xin việc là 1.970.000.000đ. Đến cuối tháng 9/2021, sau khi không xin việc được cho Lan A1 và N1, bà G1 nhiều lần yêu cầu Giáp trả lại tiền nhưng G không trả lại cho bà nên bà G1 làm đơn tố cáo G.
Tại Bản kết luận giám định số 31/KL(TL)-KTHS ngày 08/6/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên “Vũ Huy G” và nội dung chữ viết trên các giấy thỏa thuận nhận cọc, giấy nhận tiền và giấy cam kết trả lại tiền do ông Vũ Văn P giao nộp là do Vũ Huy G ký, viết ra. Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 853/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết “Vũ Huy G” trên giấy cam kết trả lại tiền xin việc do bà Nguyễn Thị G1 cung cấp là do Vũ Huy G ký, viết ra.
Ngày 07/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra K Công an tỉnh giám định dữ liệu điện tử trong USB do ông Vũ Văn P giao nộp ghi lại nội dung ghi âm cuộc trao đổi giữa ông P và Vũ Huy G về việc xin việc cho Trần Văn H. Ngày 13/10/2023, Phòng K Công an tỉnh có kết luận giám định số 852/KL-KTHS, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin ghi âm gửi giám định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2025/HS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Huy G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Huy G 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 05/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Bị cáo Vũ Huy G có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Vũ Văn P số tiền còn lại là 580.000.000đ (Năm trăm tám mươi triệu đồng); bà Nguyễn Thị G1 số tiền còn lại là 1.920.000.000đ (một tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, quyền thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 18/8/2025, các bị hại ông Vũ Văn P, bà Nguyễn Thị G1 có đơn kháng cáo, đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo G.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại ông Vũ Văn P, bà Nguyễn Thị G1 vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ, vì vậy Hội đồng xét xử công bố toàn văn nội dung đơn kháng cáo của các bị hại. Cụ thể là bị cáo đã ly hôn vợ, có hành vi tẩu tán tài sản, bị cáo bồi thường rất ít so với số tiền thiệt hại nên đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo từ 20 năm tù trở lên.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố hồ Chí Minh phát biểu: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Vũ Huy G mức án 17 năm tù là đúng người, đúng tội, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của bị cáo. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo tăng nặng hình phạt của các bị hại, y án sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Huy G không tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, đồng ý với nội dung phát biểu của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị hại ông Vũ Văn P, bà Nguyễn Thị G1 trong hạn, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại ông Vũ Văn P, bà Nguyễn Thị G1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt các bị hại theo thủ tục chung.
[2] Xét kháng cáo xin tăng nặng hình phạt của các bị hại:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Huy G đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mức hình phạt và trách nhiệm dân sự cũng như xử lý vật chứng như bản án sơ thẩm đã quyết định. Các bị hại cũng đồng ý với tội danh, trách nhiệm dân sự như bản án sơ thẩm đã tuyên xử, tuy nhiên đề nghị Tòa án xử bị cáo theo hướng tăng nặng hình phạt.
Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo, lời trình bày của các bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, các bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Huy G đưa ra thông tin gian dối là có khả năng can thiệp để giúp các cháu Trần Văn H, Nguyễn Thị Lan A1, Nguyễn Văn N1 có thể thi đậu vào Trường đại học C1 hoặc tuyển dụng vào ngành Công an, làm cho ông Vũ Văn P và bà Nguyễn Thị G1 tin tưởng giao cho G tổng số tiền 2.850.000.000đ, trong đó của ông P số tiền 880.000.000đ, của bà G1 số tiền 1.970.000.000đ và bị cáo G chiếm đoạt số tiền trên.
Hành vi của Vũ Huy G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Huy G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của các đơn vị, tổ chức Nhà nước. Bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại nhiều lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại P số tiền 300.000.000 đồng và bị hại Gái số tiền 50.000.000 đồng; gia đình bị cáo có công với cách mạng, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo có hành vi tẩu tán tài sản như các bị hại đã kháng cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy, khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã xử phạt bị cáo 17 năm tù là đã đánh giá một cách toàn diện, khách quan về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo với mức hình phạt như trên là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của bị cáo, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp các tài liệu, chứng cứ gì mới ngoài các tài liệu, chứng cứ đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, cần thiết giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên xử theo đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí hình sự và dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Vũ Văn P và bà Nguyễn Thị G1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2025/HS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Huy G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Huy G 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 05/7/2024.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: các bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Ngọc Hoa Trần Ngọc Tuấn | Nguyễn Đắc Minh |
Bản án số 20/2026/HS-PT ngày 13/01/2026 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 20/2026/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
