Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST.

Ngày: 14-11-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu và ông Tường Duy Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn –Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Nga – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST- ST ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Vàng A C; tên gọi khác: không; sinh năm: 1990; tại T- Sơn La; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường T, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A P và bà Mùa Thị M (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Giàng Thị L; sinh năm: 1984 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 28/12/2009, Vàng A C bị UBND huyện M cưỡng chế đưa người nghiện ma túy vào chữa trị, giáo dục, lao động tại Trung tâm Giáo dục - Lao động huyện P, tỉnh Sơn La trong thời hạn 24 tháng;
  • + Ngày 30/12/2009, Vàng A C bị UBND tỉnh S đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi trộm cắp có hệ thống, trong thời hạn là 24 tháng;
  • + Ngày 22/5/2015, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng. Ngày 22/5/2017, Vàng A C chấp hành xong quyết định;
  • + Ngày 12/01/2018, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng. Ngày 12/01/2020, Vàng A C chấp hành xong quyết định;
  • + Ngày 23/6/2021, Vàng A C bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 27 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 06/8/2021, Vàng A C chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 18/3/2023, Vàng A C chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Vân H kể từ ngày 25/7/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Giàng Thị L, sinh năm: 1984; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường T, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ ngày 25/7/2025 tổ công tác Công an xã T làm nhiệm vụ tại tiểu khu A, xã T tiến hành kiểm tra đối với Vàng A C đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 19P1-030.76. Qua kiểm tra phát hiện Vàng A C đang cất giấu trong túi quần 01 gói giấy bạc bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là H1. Vàng A C khai nhận đó là ma túy loại Heroine của C mua để bản thân sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm của Vàng A C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng để điều tra làm rõ.

Ngày 25/7/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A C được 0,34 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C.

Tại Kết luận giám định số 885 ngày 30/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:

  • “- Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,34 gam.
  • - Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,34 gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”.

Quá trình điều tra Vàng A C khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 25/7/2025 C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 19P1-030.76 từ nhà đến tiểu khu A, xã T tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường dân sinh thuộc tiểu khu A, xã T thì C gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được bọc trong mảnh giấy bạc với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C đi đến một bụi cây gần đó lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít, số ma túy còn lại C cất trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Trên đường đi về gặp tổ công tác Công an xã T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố Vàng A C về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy bạc;
  • - Trả lại cho chị Giàng Thị L quản lý, sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RSX, hãng H2, màu sơn trắng - đen, số máy: JC43E-6225597; số khung: RLHJC4325BY282771, biển kiểm soát: 19P1 - 030.76, xe máy không có gương chiếu hậu, có gắn giá chở hàng bằng kim loại phía sau, xe đã qua sử dụng thu giữ của Vàng A C.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận, đối đáp gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Tại phiên tòa Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Chị Giàng Thị L vắng mặt. Căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt và lời khai của người liên quan trong quá trình điều tra đã đầy đủ. Do đó, HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt chị Giàng Thị L theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2]. Về chứng cứ xác định có tội: Ngày 25/7/2025, Vàng A C bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu trái phép 0,34 gam Heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, do đó áp dụng Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 để truy tố, xét xử đối với bị cáo. Căn cứ hành vi của bị cáo đã được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định chất ma túy loại ma túy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khẳng định bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, biết việc tàng trữ 0,34 gam Heroine là xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án kết án về nhiều tội phạm khác nhau, đã bị đưa đi cai nghiện tập trung. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đường lối xử lý vật chứng là có căn cứ. Nên được HĐXX chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo không đủ 45 ngày, do đó HĐXX tiếp tục tạm giam đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy bạc là vật không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RSX, hãng H2, màu sơn trắng - đen, số máy: JC43E-6225597; số khung: RLHJC4325BY282771, biển kiểm soát: 19P1 - 030.76, xe máy không có gương chiếu hậu, có gắn giá chở hàng băng kim loại phía sau, xe đã qua sử dụng thu giữ của Vàng A C. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của bị cáo với vợ là Giàng Thị L. Chiếc xe máy trên là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy chị L không biết và không liên quan. Tại phiên tòa, bị cáo xin HĐXX xem xét trả lại chiếc xe máy trên cho vợ của bị cáo là chị Giàng Thị L quản lý sử dụng. Do đó, HĐXX trả lại chiếc xe máy trên cho chị Giàng Thị L quản lý sử dụng là đúng quy định.

[7]. Đối với nguồn gốc số ma túy: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vàng A C do không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không có căn cứ để điều tra xác minh. Buộc Vàng A C phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ là đúng quy định.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15; điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2025

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì bên trong đựng mảnh giấy bạc;
  • - Trả lại cho chị Giàng Thị L quản lý, sử dụng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RSX, hãng H2, màu sơn trắng - đen, số máy: JC43E-6225597; số khung: RLHJC4325BY282771, biển kiểm soát: 19P1 - 030.76, xe máy không có gương chiếu hậu, có gắn giá chở hàng băng kim loại phía sau, xe đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 19/BBVC-THA ngày 22/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Giàng Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La (02 bản);
  • - Công an;
  • - Trại tạm giam;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger