Hệ thống pháp luật
TOÀ PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

Bản án số: 19/2026/HS-PT
Ngày: 26/01/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Kiên
Các thẩm phán: ông Phùng Anh Dũng
ông Đặng Kim Nhân

- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quang Hưng, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 224/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Ngọc P, sinh ngày 09/02/1989 tại Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk); nghề nghiệp: kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/9/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đ; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Ông Nguyễn Hương Q, Luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: C M, phường T, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
  2. Bà Huỳnh Thị T, Luật sư văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: A T, phường T, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Chu Xuân T1, sinh năm 1996; địa chỉ: tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (nay là tổ A, phường T, tỉnh Cao Bằng); vắng mặt.
  2. Ông Phạm Quang T2, sinh năm 1984; địa chỉ: số E, tổ C, phường T, quận C, thành phố Hà Nội (nay là số E, tổ C, phường Y, thành phố Hà Nội); vắng mặt.
  3. Bà Trần Thị Kim T3, sinh năm 1982; địa chỉ: A L, đường N, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là A L, đường N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
  4. Bà Đặng Thị Mỹ T4, sinh năm 1956; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Anh T5, sinh năm 1984; địa chỉ: C Quốc lộ H, V, xã L, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

  1. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1968; địa chỉ: C L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là C L, phường T, tỉnh Đắk Lắk); có mặt. Người đại diện theo uỷ quyền của ông V: bà Hoàng Thục Anh T6; địa chỉ: C N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông V: ông Trần Ngọc Q1, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu Đ, sinh năm: 1981; địa chỉ: khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1988; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
  4. Ông Mai Văn Đ1, sinh năm 1988; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
  5. Ông Nguyễn Đình T7, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là thôn H, xã H, thành phố Hải Phòng); có mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985; địa chỉ: căn hộ B- Tòa S, khu đô thị V, Đ, G, Hà Nội (nay là căn hộ B-Tòa S, khu đô thị V, G, Hà Nội; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2016, Nguyễn Thị Ngọc P vay, mượn tiền của nhiều người để hoạt động kinh doanh bất động sản, đến ngày 28/01/2022, P đăng ký thành lập Công ty M, trụ sở tại E H, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, việc kinh doanh thua lỗ nên đến đầu tháng 3/2022, P nợ các cá nhân và ngân hàng với tổng số tiền hơn 23 tỷ đồng và mất khả năng trả nợ.

Để có tiền trả nợ, P nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu nhận chuyển nhượng (mua đất), chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bán đất), gọi chung là khách hàng. Lợi dụng việc có thời gian kinh doanh bất động sản như trên, thông qua mạng xã hội và những người môi giới bất động sản, P thu thập thông tin về giá bán và hình ảnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của các thửa đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên mà người khác đang cần chuyển nhượng. Sau đó, P đưa ra thông tin với khách hàng là các thửa đất này được rao bán với giá thấp hơn so với giá thị trường, P cam kết nếu nhận chuyển nhượng những thửa đất này thì trong khoảng 15 đến 30 ngày sẽ chuyển nhượng được cho người khác và thu lợi nhuận cao. Nếu khách hàng đồng ý nhận chuyển nhượng thì chuyển tiền cho P để P đại diện họ thực hiện thủ tục nhận chuyển nhượng, rao bán và chuyển nhượng cho người khác, P chuyển lại tiền lợi nhuận cho khách hàng; trường hợp không thể chuyển nhượng được thì P làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho khách hàng. Tuy nhiên, nhiều lần sau khi nhận được tiền thì P không thực hiện cam kết với khách hàng mà dùng tiền để trả nợ cho bản thân và tiêu xài cá nhân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2025/HS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V, ông Mai Văn Đ1, bà Nguyễn Thị Nhiễu Đ, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Đình T7 và bà Nguyễn Thị H2 kháng cáo bản án sơ thẩm; Đơn kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P tự nguyện rút kháng cáo, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo P.

[2]. Về nội dung: xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V, ông Mai Văn Đ1, bà Nguyễn Thị Nhiễu Đ, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Đình T7 và bà Nguyễn Thị H2, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ tháng 3/2022 đến tháng 9/2022, Nguyễn Thị Ngọc P có hành vi gian dối thông qua việc giới thiệu, kêu gọi người khác đưa tiền để P giúp thực hiện việc nhận chuyển nhượng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm thu lợi nhuận cao, qua đó P đã chiếm đoạt tổng số tiền 8.520.000.000đ của 05 người, gồm ông Chu Xuân T1 5.645.000.000đ, ông Phạm Quang T2 1.230.000.000đ, bà Trần Thị Kim T3 950.000.000đ, bà Đặng Thị Mỹ T4 500.000.000đ và ông Nguyễn Anh T5 195.000.000đ.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P. Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo về phần hình phạt.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn V, ông Mai Văn Đ1, bà Nguyễn Thị Nhiễu Đ, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Đình T7 và bà Nguyễn Thị H2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về phần trách nhiệm dân sự.

Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao - Vụ GĐKT I;
- Viện CT&KSXXPT tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Cơ quan CSĐT, Phòng HSNV-CA tỉnh Đắk Lắk;
- Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Đắk Lắk;
- Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk;
- Bị cáo (qua Trại tạm giam);
- Người TGTT có kháng cáo;
- Lưu: HSVA; LT; phòng HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Trần Đức Kiên
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2026/HS-PT ngày 26/01/2026 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về hình sự - tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 19/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger