|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2026/DS-PT Ngày: 14-01-2026 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Khánh Thành - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Ngô Hoàng Thanh Hải - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 509/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 71/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 676/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 486/2025/QĐ-PT ngày 3 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số C, Tổ B, thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Thanh Y, sinh năm 1984. Cùng địa chỉ: Tổ A, thôn P, xã H, tỉnh Lâm Đồng. Ông V, bà Y đều vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:
Ngày 29/02/2024, bà có cho vợ chồng ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y vay 03 lần với số tiền tổng cộng là 1.700.000.000 đồng để bị đơn làm ăn kinh doanh và bổ sung vốn kinh doanh, các bên không thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả là ngày 29/5/2024, cụ thể:
Lần 1: Vay số tiền 1.000.000.000 đồng
Lần 2: Vay số tiền 500.000.000 đồng
Lần 3: Vay số tiền 200.000.000 đồng
Tất cả các lần vay đều có viết giấy vay tiền có chữ ký xác nhận của ông V, bà Y. Đến hạn trả ông V, bà Y không trả như đã thỏa thuận. Nay bà khởi kiện yêu cầu ông V, bà Y trả tiền nợ gốc là 1.700.000.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y trình bày:
Tháng 9/2021, vợ chồng ông bà có vay bà H số tiền 1.500.000.000 đồng, thoả thuận lãi 3%/ tháng, đã trả đều lãi từ năm 2021 – 2023, do không trả tiền lãi đúng hạn nên ngày 29/02/2024 bà H ép buộc ông bà viết giấy mượn tiền với số tiền là 1.000.000.000 đồng và giấy mượn tiền với số tiền 500.000.000 đồng. Giấy mượn năm 2021 các bên thống nhất hủy bỏ. Riêng giấy mượn tiền ghi 200.000.000 đồng là giữa năm 2023 do vợ chồng ông bà gặp khó khăn trong việc trả lãi cho bà H nên vợ chồng ông bà và bà H thống nhất số tiền lãi từ tháng 6/2023 đến tháng 02/2024 thành 200.000.000 đồng; nhưng bà H ép vợ chồng ông bà viết thành giấy mượn tiền với số tiền là 200.000.000 đồng. Vợ chồng ông bà chỉ nợ bà H là 1.500.000.000 đồng theo như giấy mượn tiền 1.000.000.000 đồng và giấy mượn tiền 500.000.000 đồng cùng ghi ngày 29/02/2024. Tại các giấy mượn tiền ghi thời hạn trả tiền ngày 29/5/2024 là do bà H tự viết ra, các dòng còn lại là do bà Y viết, chữ ký trong các giấy mượn tiền là của ông bà ký xác nhận với bà H.
Quá trình vay ông bà đã trả lãi cho bà H thông qua dịch vụ chuyển khoản vào tài khoản của bà H với số tiền hơn 900.000.000 đồng nhưng hiện tại tổng chi sao kê tổng hợp được số tiền chuyển cho bà H là 719.000.000 đồng. Việc vay số tiền gốc 1.500.000.000 đồng thì giữa các bên có thỏa thuận trả lãi với mức lãi suất là 3%/tháng nhưng không viết vào các giấy mượn tiền. Riêng giấy mượn tiền 200.000.000 đồng là tiền lãi nên không có thỏa thuận lãi.
Nay bà H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà trả số tiền 1.700.000.000 đồng thì ông bà không đồng ý; trên thực tế ông bà đã trả 1.100.000.000 đồng
nên chỉ còn nợ bà H số tiền 600.000.000 đồng và đồng ý trả 600.000.000 đồng cho nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y.
Buộc vợ chồng ông V, bà Y có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 1.700.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 25/9/2025, bị đơn ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay,
Nguyên đơn bà Trần Thị H không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu: Về thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông V và căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Bà Trần Thị H cho rằng ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y đang nợ tiền vay của bà nhưng đến hạn không trả nên khởi kiện yêu cầu ông V, bà Y trả nợ, bị đơn không đồng ý nên các bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y và thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn ông Phạm Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên coi như từ bỏ việc kháng cáo. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông V.
[3]. Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Y thấy rằng:
[3.1]. Theo hồ sơ thể hiện, các giấy mượn tiền ngày 29/02/2024 thì ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị Thanh Y có vay của bà H 03 lần với số tiền 1.700.000.000 đồng; thời hạn vay đến ngày 29/5/2024 và không thỏa thuận về lãi suất. Tuy nhiên bị đơn trình bày chỉ mượn bà H số tiền 1.500.000.000 đồng từ năm 2021 với lãi suất 3%/tháng, từ tháng 9/2021 – 6/2023 bị đơn đã trả cho bà H hơn 900.000.000 đồng tiền lãi; từ tháng 6/2023 trở đi do khó khăn không trả được tiền lãi nên bà H ép bị đơn ghi giấy mượn số tiền 200.000.000 đồng mà thực chất là tiền lãi; nhưng bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã bị nguyên đơn ép buộc ký nhận nợ số tiền 200.000.000 đồng, các tin nhắn zalo không thể hiện rõ là tiền vay hay tiền lãi và nội dung các giấy vay tiền ngày 29/02/2024 cũng như nội dung các tin nhắn zalo không thể hiện liên quan nhau. Phía bị đơn cho rằng việc bị ép buộc ký giấy mượn tiền có người lao động làm việc tại cơ sở kinh doanh của bị đơn và anh trai, chị dâu bị đơn chứng kiến nhưng nhận thấy những người này có mối quan hệ là người thân và là người làm công cho bị đơn nên việc làm chứng không thể hiện được tính khách quan. Trong khi đó, bị đơn cũng thừa nhận chữ ký xác nhận vay tiền trên các giấy vay tiền là của bị đơn ông V, bà Y. Do đó, có căn cứ xác định bị đơn đã vay của nguyên đơn tổng cộng 1.700.000.000 đồng.
[3.2]. Ngoài ra, bị đơn còn trình bày quá trình vay tiền thì thông qua việc chuyển khoản và trả tiền mặt thì bị đơn đã trả tổng cộng được 1.100.000.000 đồng. Xét thấy các bản sao kê ngân hàng bị đơn cung cấp là các khoản tiền đã trả vào các năm 2021, 2022, 2023 trước thời điểm vay tiền (29/02/2024) theo 03 giấy mượn tiền, trong khi đó nguyên đơn cũng trình bày đây là các khoản tiền trả nợ cho các khoản vay trước các bên đã tất toán xong, không liên quan các khoản vay nguyên đơn khởi kiện trong vụ án này; các giấy vay tiền ngày 29/02/2024 cũng không thể hiện nội dung liên quan các khoản tiền bị đơn chuyển khoản này. Do đó, không có cơ sở để xem xét cấn trừ các khoản tiền này cho bị đơn.
Tuy nhiên, các khoản tiền bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn vào ngày 28/4/2024 số tiền 10.000.000 đồng, ngày 12/7/2024 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 16/9/2024 số tiền 10.000.000 đồng và ngày 14/10/2024 số tiền 10.000.000 đồng; tổng cộng là 50.000.000 đồng thì các bên đều thừa nhận đây là số tiền lãi bị đơn đã trả cho nguyên đơn đối với tiền vay của các giấy mượn tiền ngày 29/02/2024. Theo các giấy mượn tiền ngày 29/02/2024 thì các bên không thỏa thuận về lãi suất nhưng các bên đều thừa nhận số tiền 50.000.000 đồng bị đơn trả cho nguyên đơn là tiền lãi nên có căn cứ xác định việc vay tiền giữa các bên là hợp đồng vay có lãi.
Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì nghĩa vụ trả lãi của bị đơn đối với số tiền vay 1.700.000.000 đồng là: 1.700.000.000 đồng x 0.83% x 18 tháng 23 ngày (tính đến ngày 01/3/2024 đến ngày xét xử 24/9/2025) = 264.797.000 đồng. Như vậy số tiền lãi 50.000.000 đồng bị đơn đã trả cho nguyên đơn vẫn thấp hơn số tiền lãi mà bị đơn có nghĩa vụ phải trả. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc 1.700.000.000 đồng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, bị đơn bà Y kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên không chấp nhận kháng cáo của bà Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí: Ông V, bà Y phải chịu án phí dân sự phúc thẩm không có giá ngạch và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn V.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Y; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2025/DSST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với bị đơn ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y.
Buộc ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị H số tiền vay gốc 1.700.000.000 (Một tỷ bảy trăm triệu) đồng.
2. Về án phí: Ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Thanh Y phải chịu 63.000.000 (Sáu mươi ba triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm và 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 600.000 đồng đã tạm nộp theo các Biên lai thu số 0006415 và số 0006473 cùng ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông V, bà Y còn phải nộp 63.000.000 đồng tiền án phí.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Nguyễn Thanh T
Bản án số 19/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 19/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
